PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nguồn lực con ngƣời đƣợc xem là quý giá nhất và là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh, bền vững của bất kỳ tổ chức nào. Bên cạnh đó, tài nguyên con ngƣời trong môi trƣờng giáo dục là nhân tố cần có cách quản lý và khai thác khác hẳn so với những tài nguyên khác, ở các tổ chức khác. Vì vậy, vấn đề đầu tƣ và phát triển nguồn nhân lực tại các trƣờng học đạt hiệu quả luôn là một trong những vấn đề cần thiết mang tính cấp bách đối với sự phát triển của xã hội nói chung và với sự sống còn của nhà trƣờng nói riêng.
Ngày nay, đất nƣớc ngày càng phát triển, xu hƣớng hội nhập quốc tế ngày càng đƣợc mở rộng trên mọi ngành nghề, lĩnh vực.Bên cạnh các nguồn lực hiện đại đƣợc các nƣớc phát triển du nhập, đầu tƣ vào thì nhu cầu tự nâng cao phát triển của nƣớc ta cũng cần đƣợc chú ý đẩy mạnh, không chỉ trong các lĩnh vực kinh tế, đối ngoại mà cả lĩnh vực giáo dục đào tạo cũng cần đƣợc nâng cao.Làm thế nào để có đƣợc nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng nhu cầu quốc tế? Yêu cầu cấp thiết đó đã tạo điều kiện để hệ thống các trƣờng đại học, cao đẳng và cao đẳng nghề phát triển rộng khắp các tỉnh thành của cả nƣớc. Cơ sở vật chất, nguồn lực con ngƣời của các trƣờng đƣợc đầu tƣ mạnh mẽ, chất lƣợng nhằm thu hút lƣợng thí sinh đầu vào, điều này vô hình chung đã tạo nên sự cạnh tranh giữa các trƣờng với nhau. Bên cạnh đó, nhu cầu thực tế về chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc đào tạo ở các trƣờng cao đẳng đại học cũng ngày một cao hơn nhằm đáp ứng những yêu cầu của xã hội đặt ra, đáp ứng sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại. Ngoài ra, trong tƣơng lai, Trƣờng Cao đẳng Giao thông Vận tải III đã đề ra chiến lƣợc phát triển, nâng cấp trƣờng thành trƣờng Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải miền Nam.
Điều này đòi hỏi Nhà trƣờng cần phải có một nguồn nhân lực số lƣợng lớn, chất lƣợng cao đảm bảo chất lƣợng đào tạo sinh viên cao đẳng, đại học trong tƣơng lai. Chính từ những lý do trên, với những kiến thức có đƣợc, tôi mạnh dạn chọn viếtvề đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Trƣờng Cao đẳng Giao thông Vận tải III” nhằm đóng góp chút công sức vào việc phát triển nguồn nhân lực tại Nhà trƣờng trong giai đoạn hiện nay. Đối tƣợng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung phát triển nguồn nhân lực hiện tại của Nhà trƣờng, các kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực tại một số đơn vị, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho Trƣờng trong tƣơng lai. Phạm vi nghiên cứu - Không gian:Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động phát triển lực lƣợng giáo viên trong Trƣờng Cao đẳng Giao thông Vận tải III.
- Thời gian: từ năm 2010 đến năm 2013. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Phân tích và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tại Trƣờng Cao đẳng Giao thông Vận tải III. Từ đó, đề xuất một số giải pháp duy trì, thu hút và phát triển nguồn nhân lực cho Nhà trƣờng. Phƣơng pháp nghiên cứu Trên cơ sở các phƣơng pháp luận chung, đề tài còn sử dụng các phƣơng pháp khác nhƣ: phƣơng pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn.
Kết cấu của đề tài Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC ĐƠN VỊ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO. Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI III Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI III 1 C ƢƠNG CƠ SỞ U NVỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC ĐƠN VỊ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Nội dung của chƣơng này nhằm trình bày những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, nhƣ: khái niệm, vai trò, các yếu tố ảnh hƣởng và một số kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực tại một số đơn vị. TỔNG QUAN LÝ LU N VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC ĐƠN VỊ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO 1. Khái niệm nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực,theo nghĩa rộng, đƣợc hiểu là nguồn lực con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực, theo nghĩa hẹp, tƣơng đƣơng với nguồn lao động hay nguồn nhân lực xã hội. Đó là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Theo quan niệm của kinh tế học hiện đại, nguồn nhân lực là một trong bốn nguồn lực cơ bản của tăng trƣởng kinh tế.
Các nguồn lực đó là nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, tƣ bản, nguồn nhân lực,. Theo định nghĩa của Liên hợp quốc trong đánh giá về những tác động của toàn cầu hoá đến nguồn nhân lực năm 2009: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng” Theo George Milkovich và John Boudreau: Nguồn nhân lực bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác tạo ra giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho tổ chức 2 của ngƣời lao động. Nhƣ vậy cho dù hiểu theo nghĩa nào thì nguồn nhân lực cũng đƣợc coi là sức mạnh tổng hợp từ sức mạnh của các loại lao động cũng nhƣ từ khả năng lao động của từng cá nhân trong tổ chức: sức khoẻ, trình độ, sự hiểu biết, kinh nghiệm, lòng tin, nhân cách. Tổng quan tại các đơn vị, nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ sau: Nguồn nhân lực đƣợc hình thành trên cơ sở của cá nhân có vai trò khác nhau với những đặc điểm cá nhân, năng lực, tiềm năng phát triển, kinh nghiệm khác nhau đƣợc sắp xếp và đảm bảo những vị trí khác nhau theo một cơ cấu tổ chức nhất định, liên kết với nhau theo những mục tiêu chung, chiến lƣợc chung và với các nguồn lực khác của tổ chức.
Nhân viên có quyền hình thành các tổ chức công đoàn, các nhóm hội để bảo vệ quyền lợi của mình. Tùy theo quan điểm và khía cạnh nghiên cứu khác nhau, nguồn nhân lực cũng đƣợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành nguồn nhân lực đƣợc chia thành ba loại: - Nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động và đang có khả năng lao động: Việc quy định giới hạn độ tuổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nƣớc khác nhau. Trong từng thời kỳ, lại có sự thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp.
Ở nƣớc ta, quy định giới hạn độ tuổi lao động từ 18 đến 55 (đối với nữ) và từ 18 đến 60 (đối với nam). - Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế xã hội: Đây là những ngƣời có công ăn việc làm và đang hoạt động trong nền kinh tế quốc dân. - Nguồn nhân lực dự trữ: Nguồn nhân lực này bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động, nhƣng vì lý do khác nhau nên chƣa tham gia hoạt động kinh tế, song khi cần có thể huy động đƣợc, cụ thể là: + Những ngƣời làm công việc nội trợ gia đình, đây là nguồn nhân lực đáng kể và đại bộ phận là lao động nữ. 3 + Những ngƣời tốt nghiệp các trƣờng phổ thông trung học, trung cấp, cao đẳng, đại học, song chƣa có việc làm.
Đây là nguồn nhân lực dự trữ rất quan trọng và có chất lƣợng nếu tiếp tục đƣợc đào tạo. + Những ngƣời vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về. Họ đã đƣợc rèn luyện về sức khỏe, ý chí, đạo đức cách mạng.Vì vậy, đây là nguồn nhân lực tốt khi đƣợc sắp xếp công việc phù hợp. Trong các đơn vị giáo dục và đào tạo, nguồn nhân lực mang một số nét đặc thù riêng.
Nguồn nhân lực trong các đơn vị giáo dục đào tạo ngoài lực lƣợng lao động bình thƣờng nói trên, còn có lực lƣợng lao động đặc biệt gọi là giáo viên (giảng viên) Theo định nghĩa của Bách khoa toàn thƣ mở (Wikipedia) - Giáo viên là ngƣời giảng dạy, giáo dục cho học viên, lên kế hoạch, tiến hành các tiết dạy học, thực hành và phát triển các khóa học nằm trong chƣơng trình giảng dạy của nhà trƣờng đồng thời cũng là ngƣời kiểm tra, ra đề, chấm điểm thi cho học sinh để đánh gia chất lƣợng từng học trò. Giáo viên nam thƣờng đƣợc gọi là thầy giáo còn giáo viên nữ thƣờng đƣợc gọi là cô giáo. - Giảng viên là ngƣời giảng dạy một môn tại các trƣờng đại học hay các lớp huấn luyện cán bộ. Theo Khoản 1, Điều 70, Mục 1, Chƣơng 4 của Luật Giáo dục thì: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác.” [4] Theo Khoản 3, Điều 70, Mục 1, Chƣơng 4 của Luật Giáo dục thì: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên.”[4] Theo Điều 54, chƣơng II, Luật Giáo dục Đại học quy định: 1.
Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là ngƣời có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt 4 trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật giáo dục. Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính. Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên. Trƣờng hợp đặc biệt ở một số ngành chuyên môn đặc thù do Bộ trƣởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định.
Hiệu trƣởng cơ sở giáo dục đại học ƣu tiên tuyển dụng ngƣời có trình độ từ thạc sĩ trở lên làm giảng viên. Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chƣơng trình bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm, quy định việc bồi dƣỡng, sử dụng giảng viên. (Nguồn: Luật Giáo dục đại học)[5] Ngoài các khái niệm giáo viên và giảng viên còn có các khái niệm khác nhƣ học hàm và học vị: - Học vị là văn bằng do Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp cho ngƣời tốt nghiệp một cấp học nhất định.