Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác GVCN ở trường THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác GVCN ở trường THPT Gia Viễn C, tỉnh Ninh Bình. Chương 3: Biện pháp quản lý công tác GVCN ở trường THPT Gia Viễn C, tỉnh Ninh Bình. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở TRƢỜNG THPT 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong GD, nhân tố làm nên bộ mặt nhà trường, quyết định chất lượng GD toàn diện chính là đội ngũ GV, những người được xã hội giao phó trọng trách đào tạo thế hệ trẻ, người chủ tương lai của xã hội. Trong nhà trường phổ thông, GVCN có một vai trò hết sức quan trọng trong các hoạt động GD của nhà trường, trong việc hình thành và phát triển nhân cách của HS. Nói một cách khác, hình ảnh GVCN trong trường phổ thông là linh hồn của lớp học, là người lĩnh xướng của dàn nhạc giao hưởng hình thành nhân cách toàn vẹn cho thế hệ trẻ. Như vậy, có thể thấy rõ tầm quan trọng của GVCN trong các hoạt động GD toàn diện của nhà trường phổ thông.
Sự phát triển của nhà trường gắn liền với sự tiến bộ và trưởng thành của từng tập thể lớp học, gắn liền với sự tiến bộ và trưởng thành của ĐNGV, đặc biệt là GVCN. Khi đề cập đến công tác GVCN đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Giáo dục học 2004 (Chương XVI, Người giáo viên chủ nhiệm) của Phạm Viết Vượng – Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội; Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường Trường trung học phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2004; Công tác GVCN ở trường phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên) – Nhà xuất bản Giáo dục, 2005; Những tình huống giáo dục HS của người giáo viên chủ nhiệm của Hà Nhật Thăng (chủ biên) – Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội; Công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông - Nhà xuất bản Giáo dục, 1998; Kỷ yếu hội thảo - Công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông - Nhà xuất bản Giáo dục, 2010. Tác giả Nguyễn Thanh Bình với công trình: Công tác chủ nhiệm ở trường 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com THPT đề tài mã số SPHN – 09 – 465 NCSP, 2010, cũng như cuốn Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay – Nhà xuất bản ĐHSP, 2011. Ở đây các tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản của công tác chủ nhiệm và những nội dung trong công tác chủ nhiệm ở trường THPT hiện nay từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học; Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung cũng thể hiện quan điểm của mình trong đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên sư phạm (Kỷ yếu hội thảo khoa học – Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường Đại học sư phạm, 2010).
Một số tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh khác có liên quan đến công tác chủ nhiệm như Nguyễn Thanh Bình với tác phẩm Giáo dục kỹ năng sống – Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội, 2007; Nguyễn Thị Kim Dung và cộng sự Hướng dẫn tổ chức HĐGDNGLL (Tài liệu dành cho lớp 11); Nguyễn Thị Kim Dung với đề tài Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm của HS tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp – 2007, mã số: B2006 – 17 – 01 – 2007. Một số không nhiều bài báo, tài liệu khác viết về công tác GVCN như: Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác GVCN cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 126 (11/2005); Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác GVCN cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh - Tạp chí Giáo dục số 135 (kỳ 1 – 4/2006). Cụ thể hơn nữa với đề tài về nghiên cứu các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm thì có Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp tại trường Trung học phổ thông Mạc Đĩnh Chi, quận Dương Kinh, Hải Phòng của Ngô Thị Chuyên, 2009; Biện pháp quản lý, bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp cho giáo viên trường THPT Yên Hòa, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay của Đàm Liên Quân, 2012.
Ở Ninh Bình công tác chủ nhiệm cũng được Ban lãnh đạo Sở GD&ĐT Ninh Bình cũng như Hiệu trưởng và GV các trường rất quan tâm song mới chỉ được chỉ đạo và thực hiện dựa trên kinh nghiệm cá nhân chứ chưa có công 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình nghiên cứu nào chuyên sâu. Vì vậy trong khuôn khổ luận văn này, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu đã có, kết hợp với thực tiễn và kinh nghiệm và công tác của mình ở trường THPT Gia Viễn C, tỉnh Ninh Bình, tôi đã chọn đề tài “Quản lý công tác GVCN lớp ở Trường THPT Gia Viễn C, tỉnh Ninh Bình” để nghiên cứu trong luận văn của mình. Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1.
Những khái niệm quản lý, chức năng quản lý * Khái niệm quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội, là yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát triển của loài người. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức QL khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của QL trong sự ổn định và phát triển của xã hội. QL là một phạm trù khách quan, là một tất yếu lịch sử.
Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về QL dưới góc độ khác nhau.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [17]. Taylor được coi là cha đẻ của thuyết QL khoa học đã cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ”, “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. Henri Fayol thì xuất phát từ các loại hình hoạt động QL khi cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá” [12].
Mary Parker Follett đã có những đóng góp lớn lao trong thuyết hành vi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong QL. Ông khẳng định: “Quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại”. Theo các tác giả Mai Quang Huy, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Anh Tuấn: QL là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức (hệ thống), làm cho tổ chức đó vận động trên cơ sở phát huy tốt nhất các tiềm lực vốn có và đảm bảo phát triển đến một trạng thái mới, phù hợp với sứ mạng (các mục tiêu) của tổ chức”. Như vậy có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác động (sự tác động có tổ chức, có mục đích .) của chủ thể quản lý lên chủ thể bị quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức và nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hay người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đích trong điều kiện môi trường luôn biến động.
Các nhà nghiên cứu về QL đã đưa ra nhiều đề xuất về nội dung của các chức năng QL chung: - F. Taylor (1856-1915) và Henrry Fayol (1841-1925) đưa ra năm chức năng QL: kế hoạch hóa – tổ chức – chỉ huy – phối hợp – kiểm tra. - Theo sách giáo khoa của trường Đảng cao cấp Liên Xô (cũ) có nêu ra 6 chức năng QL chung: soạn thảo mục tiêu - kế hoạch hóa – tổ chức – phối hợp – động viên – kiểm tra. - Theo tài liệu tập huấn CBQL GD của UNESCO đề ra 7 chức năng: kế hoạch hóa – tổ chức – bố trí biên chế - chỉ đạo – phối hợp – tổng kết – quyết toán ngân sách.
* Chức năng quản lý Chức năng của QL là những nội dung và phương pháp hoạt động cơ bản mà nhờ đó chủ thể QL tác động lên đối tượng QL trong quá trình QL, nhằm thực hiện mục tiêu QL. * Chức năng lập kế hoạch Lập kế hoạch là việc đưa toàn bộ hoạt động QL một tổ chức (một hệ thống) vào kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, biện pháp thực hiện và bảo 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đảm các nguồn lực để đạt tới các mục tiêu của tổ chức. Hay nói cách khác lập kế hoạch là công tác trù liệu cho tương lai của tổ chức, tức hoạch định những vấn đề và cách thức giải quyết các vấn đề đó nhằm làm cho tổ chức có thể đối phó, thích nghi với những sự thay đổi có thể đoán trước cũng như những thay đổi không chắc chắn trong tương lai. Mức độ xa hay gần của tương lai sẽ tuỳ thuộc vào tầm thời gian của công tác kế hoạch, công tác hoạch định.
Càng xa, mức độ dự báo càng khó chính xác, do vậy nhà QL cần phải thận trọng khi thực hiện chức năng lập kế hoạch [2][11]. Trọng tâm của lập kế hoạch chính là hướng vào tương lai. Kết quả của lập kế hoạch chính là bản kế hoạch, một văn bản hay thậm chí là những ý tưởng xác định phương hướng hành động mà tổ chức sẽ thực hiện. * Chức năng tổ chức Công tác tổ chức là giai đoạn kế tiếp của công tác kế hoạch và là bộ phận không thể thiếu của chức năng QL.