Chương 1: Lý luận chung về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế Chương 2: Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế trên địa bàn huyện Như Xuân 7 Chương 3 : Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế trên địa bàn huyện Như Xuân Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Đỗ Thị Hà Thương, các thầy cô giáo trong bộ môn Tài chính - Thống kê và sự chỉ bảo của các cán bộ phòng Tài chính - Kế hoạch (TC - KH) huyện Như Xuân. Nhưng do kiến thức còn hạn chế nên bài viết của em không thể tránh khỏi những sai sót, em kính mong sự góp ý của các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế - QTKD Trường Đại học Hồng Đức và các cán bộ phòng TC - KH huyện Như Xuân. Em xin chân thành cảm ơn! 8 CHUƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ 1.1 Khái quát về chi NSNN 1.1 Khái niệm về NSNN và chi NSNN Khái niệm NSNN NSNN, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử, là một thành phần trong hệ thống tài chính. Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng.
Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về NSNN lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về NSNN tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Các nhà kinh tế Nga quan niệm NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia.
Có một số quan niệm khác về NSNN như NSNN là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm; NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước; Hay NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau… Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 định nghĩa: “ Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước”. Khái niệm chi NSNN Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ. 9 Do đó, chi NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước.2 Đặc điểm của chi NSNN Thứ nhất : chi NSNN gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ. Thứ hai : chi NSNN gắn với quyền lực nhà nước, mang tính chất pháp lí cao.
Thứ ba : các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô. Thứ tư : các khoản chi của NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp. Thứ năm : các khoản chi của NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng, v.3 Phân loại chi NSNN Theo chức năng nhiệm vụ, chi NSNN được chia ra Nhóm chi tích lũy của NSNN: là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế, là những khoản chi đầu tư phát triển và các khoản tích lũy khác. Nhóm chi tiêu dùng của NSNN: là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai, bao gồm chi cho hoạt động giáo dục, y tế, công tác dân số, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin đại chúng, thể thao, lương hưu và trợ cấp xã hội, các khoản liên quan đến can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh tế, quản lý hành chính, an ninh, quốc phòng, dự trữ tài chính, trả nợ vay nước ngoài, lãi vay nước ngoài và các khoản chi khác.
Theo tính chất kinh tế, chi NSNN đựơc chia ra Nhóm chi thường xuyên của NSNN: bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của nhà nước, là khoản chi trang trải những nhu cầu cơ bản của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị thuộc khu vực công. Qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học, công nghệ, môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác. 10 Nhóm chi đầu tư phát triển của NSNN: là các khoản chi dài hạn nhằm làm tăng cơ sở vật chất của đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn nhằm phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của nền kinh tế quốc dân, đảm bảo các điều kiện cần thiết thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, chi đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước theo quy dịnh của pháp luật. Những khoản chi này nhằm thực hiện vai trò dẫn dắt, điều chỉnh và định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế theo đúng mục tiêu của nhà nước trong từng thời kỳ, đảm bảo sự phát triển ổn định hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.
Nhóm chi trả nợ và viện trợ của NSNN: bao gồm các khoản chi để nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế. Nhóm chi dự trữ của NSNN: là những khoản chi NSNN để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước và quỹ dự trữ tài chính, là khoản chi để mua hàng hóa vật tư dự trữ nhà nước có tính chiến lược quốc gia hoặc hàng hóa vật tư dự trữ mang tính chất chuyên ngành. Chi dự trữ nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng để ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân khi kinh tế gặp khó khăn hay những biến cố bất ngờ như thiên tai, dịch bệnh… 1.4 Nguyên tắc tổ chức chi NSNN Nguyên tắc thứ nhất: gắn chặt các khoản thu để bố trí các khoản chi. Theo nguyên tắc này thì mức độ chi và cơ cấu các khoản chi phải được hoạch định dựa trên cơ sở các nguồn thu.
Nếu nguồn thu hạn hẹp thì chi ngân sách phải cắt giảm. Nếu vi phạm nguyên tắc này thì sẽ dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách quá lớn và sẽ dẫn đến khả năng bùng nổ lạm phát về kinh tế. Ngược lại, nếu thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ tránh được tình trạng bội chi NSNN, giúp nền kinh tế phát triển ổn định hơn. Nguyên tắc thứ hai: đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố chí các khoản chi tiêu của NSNN.
Nguyên tắc này đòi hỏi các tổ chức, các đơn 11 vị sử dụng nguồn kinh phí hay nguồn vốn của NSNN cấp phát phải nâng cao tinh thần trách nhiệm sử dụng một cách có hiệu quả và tiết kiệm nhất. Các cơ quan, tổ chức trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đề ra những biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi ngân sách được giao, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham ô, chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tài chính. Mọi tổ chức, cá nhân phải chấp hành nghĩa vụ nộp ngân sách theo đúng quy định của pháp luật, sử dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, đúng chế độ, tiết kiệm, có hiệu quả. Đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, tránh thất thoát nguồn ngân sách, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ kinh tế, chính trị… Nguyên tắc thứ ba: nguyên tắc nhà nước và nhân dân cùng làm, nhất là các khoản chi mang tính chất phúc lợi xã hội.
Nguyên tắc này đòi hỏi khi quyết định các khoản chi ngân sách cho một lĩnh vực nhất định cần phải cân nhắc khả năng huy động các nguồn vốn khác để giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN như huy động các nguồn tài trợ, sự ủng hộ trong nhân dân với các vấn đề xã hội. Đổi mới phương thức chi ngân sách cho lĩnh vực sự nghiệp, đẩy mạnh xã hội hóa, kêu gọi, thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, cung ứng các dịch vụ công. Quán triệt nguyên tắc này góp phần giảm nhẹ các khoản chi tiêu ngân sách mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi công dân trong xã hội, đảm bảo được yêu cầu kiểm soát của quần chúng trong chi tiêu của NSNN. Nguyên tắc thứ tư: tập trung có trọng điểm, đòi hỏi việc phân bổ nguồn vốn từ NSNN phải tập trung vào các chương trình trọng điểm,các ngành mũi nhọn của nhà nước.
Nguyên tắc này đòi hỏi việc phân bố các khoản chi ngân sách căn cứ và ưu tiên các chương trình trọng điểm của địa phương, tránh tình trạng đầu tư tràn lan mà phải đầu tư giải quyết dứt điểm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương hoạch định trong thời kỳ đó. Cần xác định đâu là mục tiêu quan trọng nhất, là vấn đề cần quan tâm hàng đầu để giải quyết trước, hơn nữa phải sử dụng hiệu quả nguồn vốn được cấp phát cũng như các khoản đầu tư để giải quyết tốt vấn đề đó. Bố trí chi đầu tư phát triển phải đảm bảo tập trung, trong đó chú ý tập trung vốn cho các dự án, công trình trọng điểm của địa 12 phương, các trương trình ưu tiên phát triển kinh tế xã hội, chương trình mục tiêu quốc gia, ưu tiên bố trí vốn đầu tư phát triển nguồn nhân lực.