CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH KHUNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về quản lý chất lượng Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về hoạt động QLCL và bảo đảm chất lượng bên trong của các cơ sở giáo dục. Các nhà nghiên cứu khoa học đã vận dụng các kết quả nghiên cứu thành công về lý luận và thực tiễn của hoạt động QLCL và đưa các lí thuyết, công trình nghiên cứu về chất lượng, hoạt động QLCL vào hoạt động quản lý giáo dục, trong đó có chất lượngvà hoạt động QLCL giáo dục nghề nghiệp.
Các nghiên cứu trên thế giới Quản lý chất lượng đã hình thành từ những năm 30 của thế kỷ XX, xuất phát trong các ngành công nghiệp quốc phòng với hai xu hướng trong QLCL (Trần Khánh Đức, 2010): Một là, từ quan điểm xem chất lượng sản phẩm là vấn đề kỹ thuật phụ thuộc vào các tiêu chuẩn, các yêu cầu về nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ. dựa vào các phương pháp kiểm tra thống kê, các thiết bị kiểm tra tự động trong và sau quá trình sản xuất. Hình thành các cấp độ QLCL, gồm: i) kiểm tra chất lượng; ii) kiểm tra chất lượng sản phẩm; iii) kiểm tra chất lượng tổng thể. Thực tế chứng minh rằng, các phương pháp quản lý này hoàn toàn thụ động, không tạo điều kiện cải tiến và nâng cao chất lượng, không mang lại hiệu quả rõ rệt do thiếu sự phối hợp tổng thể và sự quan tâm cuả các thành viên khác trong tổ chức.
Hai là, chất lượng phải được đảm bảo trong mọi quá trình, công việc và liên quan đến tất cả thành viên trong tổ chức. Việc đảm bảo chất lượng được bắt đầu từ việc đưa vào nhiệm vụ hàng đầu của tổ chức. Các phương pháp quản lý theo xu hướng này mang tính nhân văn sâu sắc như: i) QLCL tổng thể; ii) Cam kết chất lượng đồng bộ TQCo (TQCo - Total Quality Committment); iii) Cải tiến chất lượng toàn công ty CWQI (CWQI - Company Wide Quality Improvement)… Qua đó, có thể khai thác được hết tiềm năng con người trong tổ chức và kết quả là không những bảo đảm chất lượng sản phẩm mà còn nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Chìa khóa để nâng cao chất lượng ở đây không chỉ là những vấn đề liên quan đến công nghệ mà còn bao gồm các kỹ năng quản lý, điều hành và quá trình thích ứng với những thay đổi của thị trường.
Bước khởi đầu hình thành HT QLCL toàn diện TQM (TQM - Total Quality Management) do ông Armand V Feigenbaum xây dựng từ những năm 50, thế kỷ XX n 10 khi ông làm việc ở hãng General Electric với tư cách là một người lãnh đạo của hãng chịu trách nhiệm về quản lý chất lượng và quản lý sản xuất là từ kiểm soát chất lượng toàn diện TQC (TQC - Total Quality Control). Hiện nay, có nhiều quốc gia đã thiết lập cơ chế BĐCL với các hình thức đa dạng như: Anh, Đức, Các nước Mỹ Latinh và vùng Caribê, Úc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Bahrain, Singapore và Thái Lan thể hiện ở các hình thức BĐCL sau đây: Trên thế giới, các trường Cao đẳng nghề ở Anh hoạt động theo cơ chế tự quản, với đầy đủ nghĩa vụ pháp lý trong việc BĐCL và đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn từ cấp chương trình và cấp CSGDNN. Hầu hết các trường Cao đẳng nghề ở Anh đều có hệ thống BĐCL, bao gồm hệ thống thanh tra độc lập từ bên ngoài. Cục quản lý chất lượng giáo dục (QAA) được thành lập vào năm 1997, với nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện BĐCL ở các trường cao đẳng và đại học trong lãnh thổ Vương quốc Anh.
QAA là tổ chức độc lập không phụ thuộc vào chính phủ, do đại diện các trường cao đẳng và đại học trên toàn Vương Quốc Anh tổ chức. QAA thực hiện đánh giá chất lượng giảng dạy và thẩm định các chương trình đào tạo, đồng thời tư vấn giúp các trường phát triển hệ thống BĐCL (ĐHQG-HCM, 2014, tr. Bên cạnh đó, Hiệp hội doanh nghiệp ở Đức có vai trò quan trọng trong việc xác định danh mục các nghề đào tạo, thiết kế chương trình đào tạo (trên cơ sở bám sát yêu cầu kỹ năng của các các doanh nghiệp). Việc đánh giá, cấp chứng chỉ nghề nghiệp là do doanh nghiệp thực hiện và chứng chỉ này mới có ý nghĩa đối với người học khi vào làm việc tại các doanh nghiệp.
Việc học tại doanh nghiệp là một phần trong chương trình đào tạo đã được thiết kế từ đầu của mỗi khóa học. Học sinh, sinh viên chỉ có thể tốt nghiệp khóa học khi đã có sự đánh giá của doanh nghiệp. Mặt khác, Chính phủ Đức cũng quy định rất rõ trong Luật dạy nghề là các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cung cấp các thông tin về nhu cầu sử dụng lao động gồm: quy mô, cơ cấu, yêu cầu về kỹ năng. về cơ quan Chính phủ là Viện Đào tạo nghề Liên Bang (BiBB).
BiBB có trách nhiệm phân tích thông tin và cung cấp lại thông tin cho các cơ sở đào tạo theo từng nhóm ngành nghề, từng trình độ đào tạo để tổ chức đào tạo và đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp. Quản lý bảo đảm chất lượng và cải tiến chất lượng trường nghề được thực hiện và giám sát bởi các tổ chức tư nhân và công cộng ở Đức. Quá trình cơ bản đảm bảo chất lượng trong hệ thống chất lượng gồm các bước: i) Ủy ban Tiêu chuẩn phát triển và đề xuất các tiêu chuẩn; ii) Tổ chức phê duyệt Tiêu chuẩn; iii) Các tổ chức có thẩm quyền đánh giá chất lượng; iv) Cơ quan, đơn vị cấp bằng nhận tiêu chuẩn hoặc giấy chứng nhận (Trần Khánh Đức, 2019). Các nước Mỹ Latinh và vùng Caribê, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đều chú trọng phát triển hệ thống QLCL trên các mô hình cơ bản, đó là: 1) Mô hình tiêu chuẩn của ISO 9000; 2) Hệ thống kiểm định cơ sở, các giải thưởng chất lượng quốc gia và n 11 quốc tế; 3) Các giải thưởng xuất sắc cho các cơ sở giáo dục và đào tạo (ILO/Cinterfor, 2007).
Tại châu Á, gồm: Úc, hệ thống đảm bảo chất lượng GDNN được quy định thống nhất ở cấp độ quốc gia. Tất cả các cơ sở đào tạo cả công lập và tư nhân và khóa học GDNN đều được quy định và kiểm soát chất lượng bởi một trong 3 cơ quan chức năng như Cơ quan chất lượng kỹ năng nghề Úc ASQA (Australian Skills Quality Authority), Hội đồng Kiểm định đào tạo TAC (Training Accreditation Council) và Cơ quan quản lý và đăng ký chương trình đào tạo cấp văn bằng bang Victoria VRQA (Victorian Registration & Qualifications Authority).500 cơ sở đào tạo GDNN với quy mô tuyển sinh khoảng 4,2 triệu học viên mỗi năm với khoảng 450 chương trình cấp văn bằng, chứng chỉ GDNN. Trong khi TAC và VRQA chỉ kiểm soát cơ sở đào tạo và chương trình GDNN tại 1 bang, lần lượt là Tây Úc (Western Australia) và Victoria, thì ASQA phụ trách đối với 6 bang và vùng lãnh thổ còn lại. ASQA hiện đang kiểm soát đối với khoảng 90% cơ sở GDNN và 65% khóa đào tạo được kiểm định trên lãnh thổ Úc (INQAAHE, 2013).
ASQA được thành lập năm 2011, có trụ sở tại mỗi bang và hiện có tổng số gần 200 nhân viên. Điểm đáng lưu ý là ASQA không báo cáo Bộ Giáo dục Úc mà báo cáo trực tiếp lên Nghị viện Úc (IIEP, 2010a). Các qui trìnhđảm bảo chất lượng GDNN chính do ASQA quy định: Thứ nhất, đăng ký hoạt động ban đầu: thủ tục này áp dụng đối với tổ chức muốn trở thành cơ sở đào tạo và cấp bằng các trình độ GDNN trên Khung trình độ quốc gia Úc (ở Úc cơ sở đào tạo này gọi là RTO - Registered Training Organization). Giấy chứng nhận đăng ký do ASQA cấp ghi tên, mã số của cơ sở đào tạo, thời hạn đăng ký hoạt động (thời gian bắt đầu và kết thúc hoạt động) và phạm vi hoạt động.
Để đảm bảo quản lý rủi ro, ASQA chỉ phê duyệt thời hạn đăng ký 2 năm với cơ sở mới được thành lập. ASQA đánh giá, phê duyệt hồ sơ đăng ký ban đầu căn cứ vào Khung chất lượng GDNN gồm 5 nội dung gồm: (i) Các điều kiện đánh giá mức độ rủi ro về tài chính; (ii) Bộ tiêu chuẩn đối với cơ sở đào tạo được công nhận năm 2015; (iii) Các điều kiện đối với nhân sự của cơ sở đào tạo đăng ký; (iv) Các điều kiện về cung cấp số liệu và (v) Khung trình độ quốc gia. Thứ hai, công nhận các chương trình đào tạo: Đây là thủ tục áp dụng đối tổ chức muốn được công nhận nội dung một chương trình đào tạo cụ thể mà kết quả đầu ra không trùng với gói đào tạo (training package) hoặc để đào tạo trong lĩnh vực mới. Căn cứ để ASQA công nhận là các tiêu chuẩn kiểm định chương trình GDNN và Khung trình độ quốc gia Úc.
Mỗi chương trình được công nhận trong thời hạn 5 năm, được cấp một mã số và được tổng hợp trong danh mục nghề. Thứ ba, gia hạn đăng ký: Thủ tục này yêu cầu cơ sở đào tạo phải nộp hồ sơ đăng ký trước 90 ngày hết hạn trên giấy chứng nhận đăng ký ban đầu, chỉ áp dụng với cơ sở đào tạo đã triển khai đào tạo sau khi đăng ký. Thứ tư, thay đổi phạm vi đăng n 12 ký: Khi thay đổi phạm vi đăng ký, ASQA sẽ đánh giá việc tuân thủ Khung chất lượng GDNN đối với bất kỳ tổ chức khóa học nào. ASQA thường không kiểm tra thực địa mà áp dụng phương pháp quản lý rủi ro để đánh giá hồ sơ, trong đó có sử dụng công cụ là Hồ sơ của cơ sở đào tạo đang được theo dõi, cập nhật.
ASQA còn thu thập thêm thông tin từ các nguồn khác nhau như từ sinh viên và cựu sinh viên, từ đánh giá của chính phủ hay cơ quan quản lý khác, của doanh nghiệp, từ thông tin trên truyền thông, từ khiếu kiện,. Khi đánh giá nếu thấy có rủi ro, ASQA sẽ phân loại theo 4 cấp độ gồm thấp, trung bình cao và rất cao; từ đó quyết định có tiến hành kiểm định tuân thủ hay không. Đối với các tổ chức mới được phép hoạt động dưới hai năm thì cần cung cấp thêm thông tin khi muốn thay đổi phạm vi gồm báo cáo tự đánh giá và đánh giá rủi ro về tài chính.