phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trẻ của Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng. LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NGHIỆP VỤ SƢ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN TRẺ TRONG LỰC LƢỢNG VŨ TRANG 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của sự nghiệp GD - ĐT nước ta nói chung và chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học trong Quân đội nói riêng chính là đội ngũ GV; trong đó GVT có một vai trò quan trọng. Sự phát triển của GD - ĐT ngày nay đòi hỏi người GV cần có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực xã hội khác, bởi họ sẽ là những người trực tiếp tham gia vào sự nghiệp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ thành những con người có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện đại. Để có được đội ngũ GV đủ mạnh, đủ chuẩn, kế tục và phát huy thành tựu của sự nghiệp GD - ĐT nước ta, đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, vấn đề BD GV mà đặc biệt là GVT là hết sức cần thiết và quan trọng. Vấn đề này đã được các nhà khoa học quan tâm, đặc biệt là các nhà khoa học giáo dục, các nhà QLGD quan tâm; nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đã bước sang thế ki 21 với việc giao lưu, hợp tác toàn diện trên tất các lĩnh vực KT - XH trong đó có GD - ĐT.
Ở Việt Nam những năm gần đây, nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, cán bộ giảng dạy, CBQL giáo dục,…quan tâm nghiên cứu vấn đề BD nghiệp vụ cho GV ở các góc độ, nội dung, hình thức khác nhau nhằm nâng cao chất lượng toàn diện của người giáo viên và của công tác đào tạo, BD GV. BD NVSP là một hoạt động quan trọng không thể thiếu được trong công tác BD GV đang đảm nhiệm công tác giảng dạy của các NT. Các vấn đề liên quan tới BD nghiệp vụ, NVSP cho GV, GVT đã được nhiều chuyên gia, nhiều nhà giáo dục đề cập tới. Đã có một số công trình như: Lê Trần Lâm với “Đào tạo và BD giáo viên” (1992); Nguyễn Hữu Long chủ nhiệm đề tài: “Xây dựng và hoàn thiện quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm theo quy trình đào tạo mới”(Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - 1994); Nguyễn Minh Đường với “BD và đào tạo lại nguồn nhân lực” (1996); Nguyễn Hữu Dũng với “Hình thành kỹ LUAN VAN CHAT LUONG download6 : add luanvanchat@agmail.com năng sư phạm cho sinh viên” (1995); Phạm Trung Thanh và Nguyễn Thị Lý với “Rèn luyện NVSP thường xuyên” (2004), Hà Thị Thanh Thủy với “Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo các lớp cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà nội”.
Trong Quân đội: Năm 2005 Bộ tổng tham mưu đã xây dựng “Đề án kiện toàn và phát triển đội ngũ nhà giáo Quân đội”. Đề án đã đánh giá thực trạng nhà giáo Quân đội hiện nay, xuất phát từ yêu cầu xây dựng, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo của nhà nước và quy định của Bộ Quốc phòng để đề ra quan điểm, mục tiêu, các giải pháp kiện toàn và phát triển đội ngũ nhà giáo đến năm 2010 và những năm tiếp theo. Trên cơ sở đó, đội ngũ nhà giáo Quân đội từng bước được kiện toàn và phát triển đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, chuẩn về trình độ đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng GD - ĐT của hệ thống NT Quân đội trong giai đoạn mới. Về phía NT có Đề án số 790/ĐA “Kiện toàn, phát triển đội ngũ nhà giáo của NT đến năm 2015” Đề án đã đánh giá thực trạng nhà giáo của NT hiện nay, đề quan điểm, mục tiêu, phương hướng, biện pháp kiện toàn, phát triển đội ngũ nhà giáo của NT đến năm 2015.
Bên cạnh đó còn có một số công trình khoa học của các cá nhân như: Đặng Đức Thắng chủ nhiệm đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên khoa học xã hội và nhân văn trong Quân đội giai đoạn hiện nay” (2005). Đề tài đã khắc phục những điểm bất cập, góp phần đào tạo, BD, xây dựng đội ngũ giáo viên khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện Chính trị quân sự - cơ sở đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn duy nhất trong Quân đội có trình độ học vấn, NVSP, có xu hướng nghề nghiệp và những phẩm chất sư phạm phát triển cao đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên Quân đội hiện nay. Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu như: Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của Nguyễn Quốc Nghị “Tổ chức hoạt động BD năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên Trường Quân sự quân khu 4” (2008); Đề tài khoa học cấp Học viện của Phạm Minh Thụ “Giải pháp rèn luyện kỹ năng sư phạm cho học viên đào tạo giáo viên ở Học LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.com viện Chính trị hiện nay” (2010); Đề tài khoa học cấp Học viện của Phan Văn Tỵ “BD năng lực sư phạm của học viên hệ sư phạm ở Học viện Chinh trị hiện nay” (2011); Đề tài ngành của Nguyễn Văn Chung “BD năng lực dạy học của đội ngũ GV khoa học xã hội và nhân văn trong các trường sĩ quan Quân đội” (2012); Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của Hà Văn Họa “quản lý hoạt động thực hành sư phạm trong đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân văn ở Trường Sĩ quan Chính trị” (2013). Ngoài ra còn khá nhiều các đề tài NCKH các cấp, các luận văn, bài báo đề cập tới hoạt động BD GV nhưng chưa công trình nào đề cập tới quản lý hoạt động BD NVSP cho GV, GVT của TĐHCT, BQP đề tài này lần đầu tiên được nghiên cứu với các điều kiện và số liệu cụ thể về hoạt động BD NVSP cho GVT của TĐHCT, BQP tiến hành.
Các khái niệm cơ bản 1. Hoạt động BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trẻ 1.Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm * Khái niệm bồi dưỡng Theo quan niệm của UNESCO: “BD có ý nghĩa là nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn - nghiệp vụ cho bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”. Theo Từ điển Tiếng Việt (2010): “BD là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Theo Từ điển Giáo dục học (2001): “BD là trang bị thêm kiến thức kỹ năng, nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể”.
Kế thừa các quan niệm trên đây, tác giả cho rằng: Bồi dưỡng là quá trình bồi bổ, tu dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của một cá nhân, quá trình này có thể được tác động từ bên ngoài theo một chương trình hay kế hoạch xác định, cũng có thể là một quá trình tự giác của một cá nhân theo nhu cầu. LUAN VAN CHAT LUONG download8 : add luanvanchat@agmail.com * Nghiệp vụ sư phạm Theo từ điển tiếng Việt (2010) thì: “nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một nghề”, công việc chuyên môn chính của nghề giáo là: Dạy học một môn cụ thể ở NT, trực tiếp giáo dục học sinh (sinh viên) hoặc tham gia vào quá trình đó. Nghiệp vụ sư phạm theo nghĩa rộng: là toàn bộ hoạt động sư phạm với tư cách là hệ thống công việc mang tính nghề nghiệp, phân biệt với các lĩnh vực khác như nghiệp vụ ngân hàng, nghiệp vụ công an v. Nghiệp vụ sư phạm theo nghĩa hẹp: là các phương thức, phương pháp, kỹ năng, các thủ thuật ứng xử của người thầy giáo trong giảng dạy, giáo dục, giao tiếp với học sinh (sinh viên) và các tầng lớp nhân dân.
Trong thực tế, thuật ngữ NVSP còn được dùng theo nghĩa: là cách thức, thủ thuật mà người thầy giáo sử dụng trong giao tiếp và ứng xử với cá nhân, tập thể học sinh (sinh viên) và các lực lượng xã hội khác hay còn gọi là hoạt động sư phạm và để thực hiện được hoạt động này, cần có các hệ thống tri thức về hoạt động sư phạm và hệ thống kỹ năng tương ứng như: Hệ thống tri thức hoạt động sư phạm: gồm tri thức nghề là tri thức chung của bậc đào tạo như Giáo dục học đại cương v. , tri thức khoa học chuyên ngành như Toán học, Ngữ văn, Lịch sử v. (nhiều người quan niệm rằng đây là khoa học cơ bản) và tri thức khoa học giáo dục bao gồm Tâm lý học, Giáo dục học, Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn, v. được gọi chung là tri thức khoa học nghiệp vụ.
Hệ thống kỹ năng: gồm các kỹ năng thuộc lĩnh vực khoa học chuyên ngành, kỹ năng khoa học giáo dục (dạy học, giáo dục, xử lý tình huống dạy học, giáo dục v.) và các kỹ năng NCKH, giao tiếp, tự học, tự BD cùng thái độ, phẩm chất, tình cảm thuộc năng lực và phẩm chất nghề nghiệp của người giáo viên. Có một số quan niệm cho rằng để hoạt động thuận lợi trong lĩnh vực sư phạm chỉ cần có tri thức khoa học chuyên ngành (cơ bản) và các tri thức khoa học nghiệp vụ là đủ. Thậm chí nhiều người chỉ đề cao tri thức khoa học chuyên ngành (cơ bản), song có 3 vấn đề chưa thoả đáng sau đây: - Thứ nhất, thuật ngữ khoa học cơ bản không phản ánh đúng diện mạo và tính chất của một khoa học trong hệ thống phân loại khoa học (không có khoa học nào được coi là cơ bản và không cơ bản). LUAN VAN CHAT LUONG download9 : add luanvanchat@agmail.