phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động của tổ chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT - Chƣơng 2: Thực trạng việc quản lý hoạt động của tổ chuyên môn và chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang. - Chƣơng 3: Đề xuất các biện pháp quản lý Hoạt động của tổ chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHUYÊN MÔN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG THPT 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Khái niệm Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động. Mác viết: "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng".Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người.
Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Khái niệm quản lý với nhiều cách tiếp cận khác nhau: - W.Taylor cho rằng “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” - H. Koontz thì lại khẳng định rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất, vv.” Theo GS Hà Sĩ Hồ: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ định) có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định.
Trong cuốn lý luận quản lý nhà nước của giáo sư Mai Hữu Khuê có định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác. từ khi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài người thì đã xuất hiện sự quản lý. Sự quản lý đã có trong cả xã hội nguyên thuỷ, ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối” Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến" [22, tr. Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý.
trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương chính sách hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hoà, phối hợp, kiểm tra và huy động sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực. vv để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định. Từ các quan niệm của các học giả đã nêu chúng ta có thể khái quát lại: Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Các chức năng quản lý Có 4 chức năng cơ bản của quản lý đó là: 1-Lập kế hoạch 2- tổ chức 3- lãnh đạo 4- kiểm tra.
Trong bốn chức năng trên thì chức năng lập kế hoạch là quan trọng nhất. Tuy nhiên bốn chức năng này có liên quan mật thiết với nhau. các chức năng của quản lý được mô tả bằng sơ đồ sau Lập kế hoạch tổ chức Kiểm tra Lãnh đạo Sơ đồ 1: Các chức năng trong chu trình quản lý - Chức năng kế hoạch: Là một chức năng, một khâu quan trọng trong hoạt động quản lý, lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những biện pháp cơ bản và các điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đó. Kế hoạch là nền tảng của quản lý, là sự quyết định lựa chọn đường lối hành động của một tổ chức và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức.
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau.Nhờ tổ chức hiệu quả mà người quản lý có thể phối hợp điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nguồn lực khác. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được nội lực và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực. - Chức năng lãnh đạo: là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Vai trò của người lãnh đạo là phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng mọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị. - Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý, quản lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý. Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, điều chỉnh kịp thời những hạn chế từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo. Khái niệm về tổ chức, tổ chuyên môn 1.
Tổ chức Hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về tổ chức. Tổ chức (chính trị, kinh tế, giáo dục.) là một loại hình thiết chế nhà nước - xã hội được hình thành, duy trì và phát triển trên cơ sở những mục tiêu và lợi ích chung của nhóm người tham gia tổ chức (lãnh đạo, thành viên). Một trong những quan niệm mới nhất hiện nay là xây dựng và phát triển các tổ chức biết học hỏi, thường xuyên đổi mới tri thức, phát triển năng lực mới, tích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ. Một tổ chức có những đặc trưng cơ bản sau: - Sứ mệnh (Mission): Phản ánh vai trò, vị trí, lý do ra đời, tồn tại của một tổ chức trong đời sống xã hội nói chung và trong từng lĩnh vực hoạt động nói riêng như chính trị, văn hoá, giáo dục.
Tuỳ theo tính chất, loại hình tổ chức mà sứ mệnh của tổ chức có thể do được áp đặt từ bên ngoài hoặc ở cấp trên, hoặc do chính tổ chức xác định và thực hiện theo nhu cầu xã hội. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Mục tiêu phát triển: Sự hình thành và phát triển của một tổ chức luôn hướng đến các mục tiêu phát triển (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn). Mục tiêu phát triển chi phối hoạt động của tổ chức để thực hiện sứ mạng của mình. Mục tiêu phát triển không chỉ là định hướng cho hoạt động của tổ chức mà đồng thời còn tạo động lực hoạt động cho mọi thành viên của tổ chức.
Như vậy phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên. - Cơ cấu tổ chức: Bất kì một tổ chức nào đều có một cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận có các chức năng, nhiệm vụ, qui mô, cơ cấu riêng biệt và giữa chúng có các mối quan hệ chi phối, ràng buộc lẫn nhau thông qua các định chế luật lệ của tổ chức. Cơ cấu tổ chức tạo nên diện mạo và sức mạnh của tổ chức do các mối quan hệ chi phối, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình tác nghiệp thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức.Có nhiều loại cơ cấu tổ chức khác nhau, trong đó nhà trường chủ yếu theo cơ cấu tổ chức chức năng- trực tuyến. - Nhân sự: Theo Martin Hilb khái niệm “nhân sự” được hiểu là: “Tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng sử và các giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức”.
Như vậy khái niệm nhân sự không chỉ là nhân lực mà bao gồm tất cả các tiềm năng nhân lực trong một tổ chức. - Văn hoá tổ chức: Tổ chức là một cộng đồng xã hội thu nhỏ mang trong nó các thuộc tính về văn hoá- văn hoá tổ chức. Triết lý hoạt động của nhà lãnh đạo quản lý tổ chức và tập hợp đội ngũ nhân viên hình thành nên văn hoá tổ chức. - Quản trị nhân sự: “Là tổng hợp toàn bộ mục tiêu chiến lược và công cụ mà qua đó các nhà quản lý, quản trị viên trong tổ chức dùng làm nền tảng trong cung cách ứng sử” (theo Theo Martin Hilb).