phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung luận n được trình bày 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh trường trung học phổ thông đ p ứng Chuẩn nghề nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh trường trung học phổ thông khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đ p ứng Chuẩn nghề nghiệp. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh trường trung học phổ thông khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đ p ứng Chuẩn nghề nghiệp. 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG GIÁO VIÊN TIẾNG ANH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh trường trung học phổ thông đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp Bồi dưỡng giáo viên nói chung và bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh nói riêng luôn được c c nước quan tâm. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã dựa vào chuẩn để quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trong đó tập trung vào việc xây dựng nội dung bồi dưỡng, x c định thời lượng bồi dưỡng, các biện pháp tổ chức thực hiện bồi dưỡng và c c phương thức tổ chức bồi dưỡng. Yeon và Hyo trong nghiên cứu về mô hình phát triển nghề nghiệp của giáo viên tiếng Anh châu Á cho thấy bồi dưỡng hướng đến mục đích giúp giáo viên đ p ứng CNN được đưa ra.
UNESCO cũng chỉ ra rằng trong nền gi o dục hiện đại thì vai trò, vị trí, chức năng của người giáo viên đã thay đổi với những yêu cầu cao hơn. Những thay đổi đó đòi hỏi cần phải đặc biệt coi trọng việc bồi dưỡng thường xuyên với nhiều hình thức đa dạng và hệ thống c c tri thức, kỹ năng cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của họ (Đỗ Tường Hiệp, 2020, tr. - Về nội dung, c c chương trình bồi dưỡng dành cho giáo viên tiếng Anh trường trung học phổ thông ở một số quốc gia châu Á có sự khác nhau. Tại Hàn Quốc, chương trình thông thường là về giao tiếp kĩ năng giảng dạy; Trung Quốc, Indonesia, Malaysia tập trung bồi dưỡng nâng cao sự thành thạo tiếng Anh, kỹ năng 14 giảng dạy; Đài Loan, Iran, Sri Lanka, Pakistan tập trung bồi dưỡng kỹ năng giảng dạy, đ nh gi , IT, tài liệu dạy học, chiến lược giảng dạy; Thái Lan chú trọng phương ph p giảng dạy, thành thạo tiếng Anh, IT, kiểm tra và đ nh gi ,… Hồng Kông và Singapore ưu tiên bồi dưỡng việc phát triển kỹ năng giảng dạy vì các quốc gia này vốn có trình độ tiếng Anh phù hợp (Yeon& Hyo, 2007).
Nghiên cứu về các vấn đề này, Nguyễn Tiến Đạt tổng kết kinh nghiệm phát triển giáo dục và đào tạo trên thế giới cho thấy: c c nước Úc, Phần Lan khi xây dựng nội dung bồi dưỡng thường chú trọng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và các năng lực nghề nghiệp dựa trên cơ sở của CNN. Ở Hoa Kỳ, nội dung bồi dưỡng của mỗi bang đều kh c nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội đặc thù mỗi bang nhưng đều có điểm chung là nội dung bồi dưỡng dành nhiều thời gian để bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên, chú trọng việc thực hành c c bài dạy trực tiếp trên lớp; giải quyết c c kiến thức khó trong chương trình; xử lý c c tình huống trong dạy học; cung cấp những kiến thức mới; cập nhật đổi mới phương ph p dạy học để phù hợp với học sinh của từng bang. C c nước Phần Lan, Úc, Singapore, Ph p, Đức khi xây dựng nội dung bồi dưỡng thường phân chia thành 2 phần, khối lượng kiến thức chung và phần khối kiến thức tự chọn. Phần khối lượng kiến thức chung là phần kiến thức b t buộc, phần khối kiến thức tự chọn là phần để c c nhà trường tự xây dựng nội dung bồi dưỡng, tùy thuộc vào đặc thù của từng địa phương và đội ngũ giáo viên (Nguyễn Tiến Đạt, 2004).
- Về thời điểm tổ chức bồi dưỡng, tại Philippin diễn ra trong suốt cả năm học với nhiều mô hình: với mô hình phân tầng thì thời gian bồi dưỡng kéo dài trong kỳ nghỉ hè và đầu năm học mới, mô hình bồi dưỡng theo cụm thì diễn ra theo đợt khi cần, mô hình học tập từ xa thì diễn ra thường xuyên theo sự lựa chọn của mỗi c nhân (Vũ Quốc Chung, 2012). - Về tần suất và thời lượng bồi dưỡng, c c chương trình bồi dưỡng dành cho giáo viên tiếng Anh trường trung học phổ thông ở một số quốc gia châu Á cũng khác nhau. Tại Hàn Quốc, những chương trình thông thường là 180 giờ (chỉ yêu cầu một lần, được cung cấp thường xuyên hai lần một năm), chương trình tiếng Anh đặc biệt là 15-800 giờ (lựa chọn); tại Trung Quốc thì 1 lần/năm; Hồng Kông liên tục 30 tín chỉ; Nhật Bản thì năm thứ nhất và năm thứ 10; Indonesia 1 lần/năm và có độ dài 15 khác nhau từ 80-100 giờ. - Về hình thức bồi dưỡng, việc ph t triển chuyên môn của giáo viên c c nước thuộc Liên minh châu Âu được đảm bảo bằng việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên một c ch liên tục, giáo viên không chỉ có nhiệm vụ dạy học mà phải học tập liên tục, suốt đời.
Bồi dưỡng tập trung có thể được tổ chức trong khoảng thời gian ng n, thực hiện trực tiếp với tất cả giáo viên hay qua giáo viên cốt c n. Bồi dưỡng trực tuyến và trực tuyến kết hợp với trực tiếp, bồi dưỡng dưới dạng xêmina, hội thảo, tư vấn đồng nghiệp, nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng. Eminent đề cao việc bồi dưỡng giáo viên thông qua hỗ trợ của đồng nghiệp, giáo viên bồi dưỡng cho giáo viên. C c hình thức bồi dưỡng truyền thống, trực tuyến và kết hợp trực tuyến với trực tiếp vẫn tiếp tục được sử dụng tùy thuộc vào hoàn cảnh và nhu cầu của gi o viên.
Tuy nhiên, trong thế kỷ 21, hình thức kết hợp trực tuyến và trực tiếp đã được chú trọng (Đỗ Tường Hiệp, 2020, tr. - Về phương thức tổ chức bồi dưỡng, ở c c nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Pháp, Italia,. giáo viên thường x c định nội dung tự bồi dưỡng theo nhu cầu ph t triển nghề nghiệp của c nhân. Hình thức tự bồi dưỡng phổ biến là học qua mạng, tạo cho bản thân ý thức học tập mọi lúc, mọi nơi, liên tục và suốt đời.
Liên bang Nga, chú trọng việc bồi dưỡng tại chức nhằm giúp giáo viên vừa có kiến thức lý luận, thực tiễn chuyên sâu vừa có những hiểu biết rộng về lý luận sư phạm và phương ph p dạy học. Hình thức xây dựng điển hình và nhân điển hình nhằm sử dụng giáo viên có kinh nghiệm nghề nghiệp để bồi dưỡng cho giáo viên toàn ngành, mô hình này tương tự như việc sử dụng đội ngũ giáo viên cốt c n hiện nay của Việt Nam. Tại Bungari, từ những thập niên 90, ngành gi o dục coi bồi dưỡng thường xuyên là quyền lợi và nghĩa vụ của giáo viên. Do đó, phải thường xuyên đặt ra những yêu cầu và tổ chức bồi dưỡng nâng cao.
Bồi dưỡng tại chỗ được cho là hình thức bồi dưỡng thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, trao đổi hoạt động nghề nghiệp, nhất là những vấn đề mới. (Đỗ Tường Hiệp, 2020, tr. Nhìn chung, c c quốc gia đều coi trọng việc tự bồi dưỡng tại c c nhà trường, nội dung chú trọng bồi dưỡng ngôn ngữ để nâng cao sự thành thạo cho gi o viên tiếng Anh, đây cũng là xu thế của nhiều nước khi lựa chọn nội dung bồi dưỡng; phương thức bồi dưỡng cũng đa dạng, một số nước kết hợp phương thức tổ chức bồi 16 dưỡng tập trung theo cụm trường với phương thức tổ chức bồi dưỡng thường xuyên tại c c nhà trường, tất cả đều đề cao vai trò chủ động của nhà trường và giáo viên. Thực hiện quan điểm đổi mới căn bản và toàn diện gi o dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW trong đó “ph t triển đội ngũ giáo viên và c n bộ quản lý là khâu then chốt”, đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải có những phẩm chất và năng lực mới, phải chủ động và linh hoạt hơn.
Do đó, bồi dưỡng giáo viên là nhu cầu tất yếu và cấp thiết. Điều này thể hiện qua chính s ch đối với giáo dục về xây dựng nhà trường theo chuẩn mực nhất định, x c định yêu cầu CNN giáo viên, làm căn cứ để phát triển nghề nghiệp, định hướng tiếp tục học tập, bồi dưỡng nâng cao năng lực. CNN giáo viên cũng là căn cứ quan trọng để nhà quản lý thực hiện chức năng quản lý công t c đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Năm 2009, Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT quy định CNN nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông được ban hành.
Thông tư bao gồm các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quy trình đ nh gi xếp loại giáo viên trung học. Đến năm 2018, Thông tư này được thay thế bởi Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. Mục đích khi p dụng CNN là giúp giáo viên tự đ nh gi phẩm chất, năng lực; xây dựng và thực hiện kế hoạch rèn luyện phẩm chất, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đ p ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. Bên cạnh đó, việc bồi dưỡng giáo viên trường trung học phổ thông theo CNN còn là cơ sở để c c cơ quan quản lý đề xuất các chế độ, chính s ch đối với giáo viên trung học phổ thông.
Tác giả Nguyễn Tiến Phúc trong nghiên cứu “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp ở vùng Tây Bắc” x c định nội dung bồi dưỡng bám sát các nội dung bồi dưỡng của chương trình bồi dưỡng thường xuyên do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo định hướng của chuẩn, g n với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục trung học phổ thông của địa phương. Nghiên cứu cho thấy nội dung bồi dưỡng phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục, hướng đến CNN giáo viên. Tuy nhiên đề tài chưa đề cập sâu đến nhu cầu giáo viên khi xây dựng nội dung bồi dưỡng, việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng chưa g n chặt với kết quả đ nh gi CNN. Vì vậy, vấn đề này cần tiếp 17 tục nghiên cứu (Nguyễn Tiến Phúc, 2013).