CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về quản lý Sử gia Daniel A. Wren nhận xét: “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy” và cho rằng quản lý ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của con người; nhưng chỉ thời gian gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý.
23] Vào khoảng những năm 500 - 200 trước công nguyên tại Hy Lạp đã xuất hiện các quy định đạo đức công vụ, đã có trường đại học quản lý của Socrate và khởi đầu các phương pháp khoa học để giải quyết vấn đề. Năm 300 sau công nguyên, “Cấu trúc thứ bậc phi tập trung với chính sách và sự kiểm soát chiến lược có tính tập trung” đã được nhà thờ Thiên chúa giáo nêu ra. 24] Nhà văn Niccolo Machia Vell (Italia, 1469 - 1572) trong “Những bài diễn văn” đã tổng kết thành các nguyên tắc sau: Mọi tổ chức sẽ ổn định, bền vững nếu các thành viên có quyền biểu thị sự khác biệt của mình và giải quyết những xung đột giữa họ bên trong tổ chức. Khi các cá nhân bắt đầu xây dựng một tổ chức: “Nó còn tồn tại và kéo dài chừng nào nó được sự quan tâm của nhiều người và họ muốn duy trì nó tồn tại”.
Một người quản lý yếu kém có thể noi theo một người quản lý giỏi hơn, nhưng không một người quản lý yếu kém nào lại có thể duy trì được uy tín của mình. Một người quản lý tìm kiếm sự thay đổi một tổ chức đã được hình thành sẽ phải giữ lại chí ít cái bóng của thói quen cũ. 25] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà xã hội không tưởng người Anh là Robert Owen (1771 – 1858), là một trong những người tiên phong trong việc nhận ra tầm quan trọng hàng đầu của nguồn nhân lực. Các quan điểm truyền thống đã ra đời hơn một thế kỷ nay, nhưng ý nghĩa lý luận cũng như giá trị thực tiễn của chúng vẫn còn nóng hổi bởi lẽ các học thuyết ấy ra đời trong bối cảnh nền văn minh công nghiệp đã phát triển và vẫn tồn tại.
Cho đến ngày nay vấn đề vẫn phải nghiên cứu để vận dụng được các học thuyết và quan điểm đó trong bối cảnh hiện nay. Thuyết quản lý khoa học (Sciencific Management) xuất hiện trong cuốn sách “Những nguyên tắc quản lý khoa học” (The Principes of Scientific Management) của Frederick Winlow Taylor (1856 - 1915) xuất bản năm 1911. Taylor được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học, với các nguyên tắc cơ bản của quản lý khoa học là: - Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hình thành yếu tố đó. - Tuyển chọn công nhân một cách cẩn trọng và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng cách sử dụng các phương pháp có tính khoa học đã được hình thành.
- Người quản lý hợp tác đầy đủ và toàn diện với công nhân để đảm bảo chắc rằng người công nhân sẽ làm việc theo những phương pháp đúng đắn; - Phân chia công việc và trách nhiệm sao cho người quản lý có bộ phận lập kế hoạch cho các phương pháp công tác khi sử dụng những nguyên lý khoa học, còn người công nhân có nhiệm vụ thực thi công tác theo đúng kế hoạch đó. 28] Trong thập kỷ 20 - 30 của thế kỷ XX, trước những biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội, một thuyết khác trong quản lý đã xuất hiện; đó là quan điểm về hành vi (quan điểm quan hệ con người). Học thuyết này giúp người quản lý ứng xử có hiệu quả hơn với những khía cạnh con người và khía cạnh nhân bản trong một tổ chức. Thay vì quá chú trọng đến chức năng của người quản 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý, thuyết này gắng hướng dẫn cách người quản lý thực hiện cái họ phải làm, tức là họ phải làm thế nào để lãnh đạo, hướng dẫn người dưới quyền và giao tiếp tốt với những người dưới quyền.
Những năm 1951-1975, những thay đổi ngày càng nhanh hơn, giới tri thức ngày càng tăng cường. Nhiều nhà khoa học cố tìm mô hình quản lý mới. Karz và Kahn (ĐH Michigan), Lawrence và Lorsch (ĐH Harvard) xây dựng mô hình các hệ thống mở của tổ chức. Mô hình này năng động hơn các mô hình đã có.
Người quản lý không còn là người ra quyết định hợp lý để kiểm soát tổ chức như là một cỗ máy. Trong mô hình các hệ thống mở, tổ chức phải cạnh tranh trong một môi trường bất định. Mô hình này giả định rằng sự thích nghi liên tục và sự đổi mới sẽ đem lại kết quả và sự ủng hộ từ bên ngoài. Khi đó người quản lý phải là người đổi mới một cách sáng tạo và là người môi giới tinh tế.
Nghiên cứu về quản lý giáo dục Hệ thống giáo dục, đặc biệt là trong các nhà trường phổ thông ở các nước phát triển đã được những nhà nghiên cứu về lý luận và cxthực tiễn quản lý giáo dục đặc biệt quan tâm. Nhà sư phạm lỗi lạc Cô - men - xki (1592 - 1670) khi đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường, đã khẳng định vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản lý giáo dục là “Tổ chức hệ thống giáo dục” trên quy mô toàn xã hội. 6] Những nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường ở Liên Xô đã được chú trọng vào những năm 50 của thế kỷ XX. Năm 1956, ở Liên Xô lần đầu tiên đã xuất hiện cuốn “Quản lý trường học” của A.Pôpôp, như là một tập hợp khá hoàn chỉnh các chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn của những người làm công tác quản lý giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý trường học.
7] Thời gian gần đây, các dịch giả và những nhà nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục ở Việt Nam đã dịch và giới thiệu nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phương tây về quản lý giáo dục, trong số đó có 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các công trình: “Hành vi tổ chức trong giáo dục” (Organnization Behavior in Education) của Robert J. Owen (1995), “Quản lý giáo dục - Lý thuyết, nghiên cứu và thực tiễn” (Educational Administration - Theory, Resarch and Practice) của Wayne K. 9] Trong hơn một thế kỉ qua, giáo dục toàn cầu đã có những bước tiến vượt bậc. Giáo dục cơ bản đã được quan niệm như một kết cấu hạ tầng xã hội, như một động lực phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.
Chưa bao giờ giáo dục được quan tâm như hiện nay. Hội nghị cấp cao toàn cầu về “Giáo dục cho mọi người” ở Jomtiem - Thái Lan (tháng 3 năm 1990) đã khẳng định vai trò của giáo dục và đề ra “chương trình hành động” trên toàn thế giới về giáo dục cơ bản cho mọi người. Như vậy, cả lý thuyết và thực tiễn đều đã song hành thúc đẩy để “Quản lý giáo dục” có quy mô toàn cầu và biểu thị một sự thật về sự tồn tại có tính toàn cầu của “Thực tiễn quản lý giáo dục”. Sơ lược lịch sử nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng giáo viên GV có vai trò chủ đạo trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Do đặc điểm của công việc, giáo viên phải thường xuyên được bồi dưỡng, tự bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Vấn đề quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên sao cho có hiệu quả cũng vì thế mà ngày càng được quan tâm. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm ở mức độ cao, sâu sắc, toàn diện đến thực tiễn quản lý giáo dục nói chung và đến công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nói riêng. Thể hiện qua một số các văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý bồi dưỡng giáo viên như: - Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã đưa ra các giải pháp phát triển giáo dục, trong đó có giải pháp về phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giảng dạy.
- Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân có đề cập đến công tác xây dựng đội ngũ giáo viên phổ thông. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chỉ thị số 22/2003/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý hàng năm đã đề ra mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý. - Chỉ thị số 40/CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đã chỉ đạo: “Tiến hành ra soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đảm bảo đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý.” - Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2001-2010 đã xác định mục tiêu, các nhiệm vụ chủ yếu, các giải pháp cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. - Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 7 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên.
Trong đó có nêu rõ: Những quy định chung, Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên, đánh giá công nhận kết quả bồi dưỡng thường xuyên, nhiệm vụ và quyền của giáo viên, tổ chức thực hiện.