Tổng quan về luận án
Công trình "Nghiên cứu phương pháp viết sử của sử gia Việt Nam qua bộ quốc sử thời Lê Đại Việt sử ký Toàn thư" do nghiên cứu sinh Ye Shao Fei (Nguyễn Kim Măng) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Đinh Khắc Thuân và PGS.TS. Nguyễn Tuấn Cường tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học Xã hội (Mã số chuyên ngành Hán Nôm: 922 01 04, bảo vệ năm 2022) là một chuyên khảo văn bản học và sử học mang tính tiên phong. Bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) trải qua hơn 400 năm hình thành và tích lũy qua ngòi bút của các sử gia thuộc nhiều triều đại khác nhau—từ Lê Văn Hưu thời Trần (1272), Phan Phu Tiên (1445), Ngô Sĩ Liên (1479) thời Lê sơ, đến Phạm Công Trứ (1665) và Lê Hy (1697) thời Lê Trung hưng.
TIẾN TRÌNH BIÊN SOẠN VÀ DIỄN TIẾN VĂN BẢN ĐVSKTT
Khoảng trống học thuật (Research gap) then chốt mà luận án giải quyết xuất phát từ việc giới nghiên cứu Hán Nôm và sử học quốc tế tồn tại nhiều bất đồng sâu sắc về niên đại, nguồn gốc ván khắc và các tầng lớp văn bản của bản in Nội các quan bản (NCQB) niên hiệu Chính Hòa thứ 18 (1697). Đa số các công trình trước đây chỉ tiếp cận ĐVSKTT dưới góc độ tư liệu lịch sử đơn thuần hoặc nghiên cứu rời rạc từng sử gia cá biệt mà chưa phân tích có hệ thống cấu trúc văn bản học (Textual Criticism) kết hợp khảo sát tư tưởng sử học qua các "lớp địa tầng" biên soạn.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của luận án được xác lập cụ thể:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cấu tạo thể thức văn bản, bản tâm, chữ kiêng húy và vết tích mộc bản của bản NCQB (kí hiệu SA.PD 2310 lữu trữ tại Hội Á Châu Paris) phản ánh điều gì về quá trình in ấn và tái bản trong lịch sử?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Mối quan hệ tương hỗ và sự chuyển dịch về mặt thể tài biên soạn giữa Ngoại kỷ, Bản kỷ toàn thư, Bản kỷ thực lục và Bản kỷ tục biên được quy định như thế nào qua các thời kỳ?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Hệ hình tư tưởng viết sử (Historiographical Ideology) của các sử thần Đại Việt từ thời Trần đến Lê Trung hưng chuyển biến ra sao dưới tác động của Nho giáo, quan điểm Chính thống và bối cảnh quyền lực chính trị?
Phạm vi nghiên cứu bao quát hệ thống 20 văn bản ĐVSKTT tại Việt Nam (6 bản: 5 bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm như A.3/4, A.2694/1-7, VHv.179/1-9, VHv.1499/1-9, VHv.2330-2336; 1 bản tại Thư viện Quốc gia R.1), Pháp (7 bản tại Thư viện Quốc gia Pháp và Hội Á Châu) và Nhật Bản (7 bản tại Thư viện Đại học Tenri và Văn khố Tư Đạo - Đại học Keio, kí hiệu 322/10 và 321/4), trải dài từ giai đoạn nhà Lý (1010-1225) đến cuối thế kỷ XVII (1697).
Literature Review và Positioning
Nghiên cứu thư tịch học và văn bản học về ĐVSKTT trong hơn một thế kỷ qua hình thành các luồng học thuật với những luận điểm đối thoại và tranh biện quyết liệt:
CÁC KHUYNH HƯỚNG TRANH BIỆN HỌC THUẬT
[Khuynh hướng Pháp - Nhật] [Học giả Việt Nam] [Học giả Nga - Trung]
- L. Cadière & P. Pelliot (1904) - Phan Huy Lê (1983, 1988) - A. Fedorin (2008, 2011)
- E. Gaspardone (1934) - Trần Văn Giáp (1936, 1970) - Quách Chấn Đạc (1989, 1990)
- Trần Kinh Hòa (1984-1986) - Bùi Thiết, Lê Trọng Khánh (1999) - Vũ Thượng Thanh (1986, 1987)
(NCQB in muộn, thiếu chữ húy) (NCQB là bản Chính Hòa / Tự Đức) (NCQB là sách giáo khoa thế kỷ 18)
-
Luồng nghiên cứu Thư mục học và Thư tịch học cổ điển: Khởi đầu từ công trình của Léopold Cadière và Paul Pelliot (1904) trong "Première étude sur les sources annamites de l'histoire d'Annam", tiếp nối bởi Émile Gaspardone (1934) với "Bibliographie Annamite", Trần Văn Giáp (1936, 1970) với công trình đại thành "Tìm hiểu kho sách Hán Nôm", và Lưu Ngọc Quân (2008) với "Nghiên cứu văn hiến học cổ tịch Hán Nôm Việt Nam". Nhóm này định vị hệ thống thư tịch lịch sử Việt Nam chịu ảnh hưởng phương pháp biên soạn phương Đông nhưng chứa đựng tính độc lập văn hiến bản địa.
-
Tranh biện về bản quyền văn bản và thời điểm khắc in NCQB:
- Quan điểm Trần Kinh Hòa (Chen Ching-ho, 1984-1986): Khi thực hiện bộ Hiệu hợp bản ĐVSKTT tại Đại học Keio và Đại học Tokyo, Trần Kinh Hòa khảo sát bản của Thư viện Đại học Tenri và bản Démiville, cho rằng bản Démiville không phải là nguyên bản khắc in năm Chính Hòa 18 (1697) vì thiếu các chữ kiêng húy của vua Lê - chúa Trịnh và thể thức chữ khắc không đồng nhất giữa các quyển.
- Quan điểm Phan Huy Lê (1983, 1988): Khảo sát bản Démiville (kí hiệu Paris.2310) do ông tiếp cận tại Thư viện Hội Á Châu Paris năm 1983, GS. Phan Huy Lê cùng hội nghị giám định năm 1988 của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam khẳng định đây là bản khắc in thời Lê - Trịnh thuộc hệ thống bản Chính Hòa 1697. Trái lại, Bùi Thiết (1999) lại đưa ra giả thuyết bản NCQB do cơ quan Nội các triều Nguyễn khắc in vào năm Tự Đức thứ 9 (1856).
- Quan điểm A. Fedorin (2008, 2011): Sử dụng phương pháp định lượng và cấu trúc hình thức trong chuyên khảo "Những cứ liệu mới về việc viết sử Việt Nam", Fedorin lập luận rằng bản NCQB do Ngô Thì Sĩ và Phạm Nguyễn Du biên soạn lại vào thế kỷ XVIII để làm sách giáo khoa giảng dạy, và tiền tố "Nội các quan bản" được khắc thêm nhằm gia tăng uy quyền học thuật.
-
Tranh luận về mối quan hệ giữa Việt sử lược và Đại Việt sử ký: Yamamoto Tatsuro (1952) cho rằng Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu kế thừa từ Việt chí của Trần Chu Phổ, và tác giả Việt sử lược là Hồ Tông Thốc. Trần Kinh Hòa (1980) và Ngô Thu Yến (2009) phản bác, chứng minh tác giả Việt sử lược chính là Trần Chu Phổ. Trương Tiếu Mai và Quách Chấn Đạc (1997) lại nhận định hai tác phẩm hoàn toàn độc lập. Về vấn đề này, Phan Huy Lê từng nhận xét xác đáng:
"Tất cả những chủ trương thuộc hai khuynh hướng trên đây đều là những giả thuyết khoa học đáng lưu ý, nhưng trong tình trạng sử liệu hiện nay, thì chưa thể coi đó là những kết luận khoa học có đủ sức thuyết phục."
Luận án của Ye Shao Fei tự định vị tại điểm giao thoa giữa văn bản học thực chứng và sử học tư tưởng, vượt qua hạn chế của A. Fedorin (thiếu đối chiếu khảo cứu thực địa văn bia) và Tạ Vinh Toàn (2015 - bỏ sót các thành tựu quốc tế), tiến hành giải phẫu trực tiếp 24 quyển của bản NCQB Démiville để tái dựng toàn cảnh phương pháp trước tác của sử quan Đại Việt.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng và kiểm chứng các lý thuyết sử học kinh điển phương Đông trong môi trường văn hiến Việt Nam:
MÔ HÌNH TÍCH HỢP LÝ THUYẾT SỬ HỌC
LƯU TRI CƠ (Sử Thông) TƯ MÃ THIÊN (Sử Ký) CHU HY (Cương Mục)
"Tam Tài Sử Học": "Hình Mẫu Kỷ Truyện": "Xuân Thu Bút Pháp":
- Sử Tài (Kỹ thuật biên chép) - Hồng Bàng Kỷ ~ Ngũ Đế - Đại thư (Ghi sự kiện lớn)
- Sử Học (Kiến văn, tư liệu) - Thể Kỷ hóa nhân vật - Phân chú (Ghi rõ chi tiết)
- Sử Thức (Đạo đức, nhận thức) - Nhập truyền kỳ vào chính sử - Chính thống vs Tiếm ngụy
PHƯƠNG PHÁP BIÊN SOẠN ĐVSKTT THỜI LÊ
- Tích hợp Biên niên - Kỷ truyện
- Cấu trúc "Lưỡng hành phân chú"
- Thiết lập Chính thống hệ hình Đại Việt
- Khung lý thuyết "Tam tài sử học" của Lưu Tri Cơ (Sử Thông): Vận dụng tiêu chí Sử tài (kỹ năng trước thuật), Sử học (nguồn tư liệu uyên bác) và Sử thức (nhận thức và trực bút) để đo lường năng lực học thuật của Ngô Sĩ Liên và Lê Văn Hưu. Luận án chứng minh các sử gia thời Lê đã nâng Sử thức lên tầm ý thức hệ quốc gia độc lập.
- Khung lý thuyết Kỷ truyện và Bản kỷ của Tư Mã Thiên (Sử Ký): Luận án chứng minh Ngô Sĩ Liên đã mượn phương pháp luận từ thiên Ngũ Đế bản kỷ của Tư Mã Thiên để xử lý tư liệu huyền thoại dã sử trong Lĩnh Nam chích quái, kiến tạo nên Hồng Bàng thị kỷ và Thục kỷ, chính thức xác lập nguồn gốc dân tộc Đại Việt ngang hàng với thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế của Trung Hoa.
- Mô hình "Đại thư - Phân chú" và "Xuân Thu bút pháp" của Chu Hy (Tư trị thông giám cương mục): Khung lý thuyết phân định Chính thống luận (Legitimacy) được hiện thực hóa qua kỹ thuật chia dòng văn bản.
Khung phân tích độc đáo
Hệ thống phân tích của luận án kết hợp 3 trụ cột lý thuyết: Sử học biên niên (Tư Mã Quang), Sử học thực lục (Hệ thống Thực lục nhà Minh - nhà Lê) và Văn hiến học Hán Nôm.
KHUNG PHÂN TÍCH VĂN BẢN HỌC
[KHẢO SÁT HÌNH THỨC VĂN BẢN] [PHÂN TÍCH NỘI DUNG TƯ TƯỞNG]
- Khảo sát Bản tâm (版心刻字) - Phân tích Lời bình (Sử quan viết)
- Phân tích Kiêng húy (Chữ Trừ 除) - Phân tích Thể tài (Biên niên/Thực lục)
- Đối chiếu Vết khắc, khoét ván - Phân tích Phàm lệ & Chính thống quan
KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH VÀ PHƯƠNG PHÁP VIẾT SỬ
Khung phân tích thiết lập rõ điều kiện biên: Phân biệt tuyệt đối giữa thời điểm khắc ván in (mộc bản) và thời điểm in ra bản giấy (ấn phẩm truyền bản), ngăn ngừa các suy diễn sai lầm về niên đại do hiện tượng tu chỉnh ván in thời Nguyễn.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận dụng triết học hiện thực phê phán (Critical Realism) và lập trường văn hiến học thực chứng. Thiết kế nghiên cứu đa tầng kết hợp phân tích văn bản định lượng (Quantitative Textual Analysis) với định tính lịch sử (Qualitative Historiography).
| Tiêu chí |
Thông số chính xác trong luận án |
| Bản nền khảo sát chính |
Bản Nội các quan bản (NCQB) của Paul Démiville, kí hiệu SA.PD 2310 tại Hội Á Châu Paris |
| Quy mô đối sánh |
20 dị bản ĐVSKTT tại 3 quốc gia (Việt Nam: 6, Pháp: 7, Nhật Bản: 7) |
| Tổng số quyển phân tích |
24 quyển chính văn cùng toàn bộ phần Quyển thủ (Tựa, Biểu, Phàm lệ, Mục lục) |
| Thời gian khảo sát sử liệu |
Trải dài từ thời Lý (1010) qua Trần, Lê sơ, Lê Trung hưng đến năm Chính Hòa 18 (1697) |
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình xử lý dữ liệu trải qua 4 bước tam giác hóa phương pháp (Methodological Triangulation):
QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 4 BƯỚC RIGOROUS
- Khảo sát chữ kiêng húy (chữ Trừ 除, chữ húy triều Nguyễn)
- Đo đạc kích thước khung bảng, cột chữ, số chữ/cột
- So sánh đối tịch: ĐVSKTT vs Việt sử lược, Nam ông mộng lục
- Phân tích diễn ngôn lời bình (Lê Văn Hưu viết, Ngô Sĩ Liên viết)
- Khảo sát tư liệu văn bia dòng họ Ngô Sĩ Liên (Chương Mỹ, Hà Nội)
- Đối chiếu niên đại thực tế với ghi chép trong chính sử
- Xác lập quy luật tiếp biến phương pháp viết sử thời Lê
- Phương pháp Văn bản học (Textual Criticism): Khảo sát hình thức vật lý của văn bản gồm bản tâm (版心), đuôi quyển (卷尾), đường biên, dấu khoét ván và chữ kiêng húy.
- Phương pháp Văn hiến học (Documentary Philology): Thao tác giải nghĩa văn tự (義字), ngữ pháp (文法), bối cảnh lịch sử (歷史) và tư tưởng (思想) chứa đựng trong các bài tựa, phàm lệ và lời bình sử.
- Phương pháp Sử liệu học so sánh (Comparative Historiography): Đối chiếu chéo giữa ĐVSKTT với Đại Việt sử lược, An Nam chí lược, Nam ông mộng lục, Tống đại chiếu lệnh tập và Minh thực lục.
- Phương pháp Khảo sát điền dã (Epigraphical Fieldwork): Trực tiếp khảo sát thực địa tại quê hương các sử gia—thôn Phủ Lý, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (quê hương Lê Văn Hưu) và Chương Mỹ, Hà Nội (quê hương Ngô Sĩ Liên), đối chiếu văn bia và gia phả với ghi chép trong quốc sử.
Data và phân tích
Dữ liệu văn bản được giải mã chi tiết qua cấu trúc bản in Démiville:
GIẢI THỂ CẤU TRÚC BẢN IN DÉMIVILLE (NCQB)
[PHẦN 1: BẢN "ĐVSKTT"] [PHẦN 2: BẢN "VIỆT SỬ"]
- Vị trí: Quyển thủ, Ngoại kỷ Q1-5, Bản kỷ Q1-7 - Vị trí: Bản kỷ toàn thư Q8-10, Bản kỷ thực lục
- Bản tâm khắc: "Đại Việt sử ký toàn thư" (大越史記全書) Q11-15, Bản kỷ tục biên Q16-19
- Kiểu chữ: Nét khắc vuông vắn, phong cách Lê sơ - đầu Trung hưng - Bản tâm khắc: "Việt sử bản kỷ", "Việt sử thực lục",
- Quyển 11: Khắc "Đại Việt sử ký thông giám tục biên" "Việt sử tục biên" (越史本紀/實錄/續編)
- Kiểu chữ: Nét khắc có độ chuyển biến, phong cách
thời Lê Trung hưng muộn
Nghiên cứu kiểm chứng độ tin cậy bằng việc phát hiện chữ kiêng húy: bản NCQB có kiêng húy chữ Trừ (除) thuộc húy thế tổ Trịnh Kiểm (Trịnh Trừ), khẳng định tính chất nguyên bản mộc bản thời Lê - Trịnh chứ không phải bản ngụy tạo thời Nguyễn.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Phát hiện cấu trúc văn bản kép của bản Démiville (NCQB): Luận án chứng minh bản Démiville không phải là một khối in thuần nhất mà là sự tích hợp của hai đợt khắc ván khác nhau:
- Hệ thống văn bản ĐVSKTT: Gồm phần đầu, toàn bộ Ngoại kỷ toàn thư (Quyển 1 đến Quyển 5) và Bản kỷ toàn thư (Quyển 1 đến Quyển 7), có bản tâm khắc 7 chữ "Đại Việt sử ký toàn thư".
- Hệ thống văn bản Việt sử: Gồm Bản kỷ toàn thư (từ Quyển 8 trở đi), Bản kỷ thực lục và Bản kỷ tục biên, có bản tâm khắc "Việt sử bản kỷ", "Việt sử thực lục", "Việt sử tục biên", riêng quyển 11 khắc "Đại Việt sử ký thông giám tục biên".
- Giải mã ẩn ngữ "Cựu sử" trong Phàm lệ tục biên của Lê Hy: Luận án chứng minh từ ngữ "Cựu sử" (舊史) mà Lê Hy nhắc đến trong nguyên văn:
"Ngoại kỷ toàn thư từ Hồng Bàng thị đến Ngô Sứ quân, cựu sử biên thành một tập... Nay san cho gọn, mỗi tập đều chia làm hai tập thượng, hạ để tiện xem đọc" (外紀全書,自鴻龐氏至吳使君,舊史編一集... 茲以其刪繁,每一集分為上下二集,以便觀覽)
chính là chỉ bộ ĐVSKTT gồm 23 quyển do Phạm Công Trứ biên soạn năm Cảnh Trị thứ 3 (1665), chứ không phải là bản 15 quyển của Ngô Sĩ Liên hay bản của Vũ Quỳnh.
3. Phục dựng tiến trình phân chia Quyển - Tập thời Cảnh Trị và Chính Hòa: Tái lập thành công bảng chuyển đổi bố cục thiên chương: Phạm Công Trứ gom các vua thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần thành các tập lớn theo phương thức "Hợp truyện" (合傳), còn mỗi vua thời Lê chiếm một quyển độc lập. Đến năm 1697, Lê Hy chia tách 6 tập lớn thành 12 tập Thượng - Hạ, hình thành nên bản toàn vẹn 24 quyển.
4. Chứng minh sự tồn tại của mộc bản in thời Cảnh Trị: Đối chiếu hai câu tựa mâu thuẫn: Phạm Công Trứ khẳng định đã "Soạn thành sách sử và khắc in ban hành" (述為成書,鋟梓頒行), trong khi Lê Hy viết: "Giao cho khắc in, mười phần mới được chừng năm, sáu. Nhưng công việc chưa xong, sách còn cất giữ ở Bí các" (付諸刊刻十纔五六,第事未告竣,猶藏於秘閣). Luận án kết luận ván khắc thời Phạm Công Trứ đã thực sự được tiến hành hơn 50% khối lượng và được Lê Hy tái sử dụng, bổ sung vào năm 1697.
5. Khảo dị văn bản ngoại giao: Phát hiện bản văn "Chiếu thư thảo Giao Châu của Tống Thái Tông" chép trong ĐVSKTT thực chất không phải nguyên bản chiếu lệnh nhà Tống mà là bài "Dụ Giao Chỉ văn" (諭交阯文) do Nho sinh Vương Vũ Xưng (王禹偁) soạn, du nhập vào Đại Việt rồi được chép lại.
SỰ TIẾP BIẾN THỂ TÀI VÀ TƯ TƯỞNG BIÊN SOẠN
SỬ GIA THỜI KỲ THỂ TÀI NÒNG CỐT ĐẶC TRƯNG TƯ TƯỞNG
Lê Văn Hưu Thời Trần Biên niên cương yếu Ý thức độc lập, đề cao Nho giáo sơ kỳ,
(Đại Việt sử ký) (1272) (Lược biên) dẫn lời Khổng Tử bình luận nhân vật.
Ngô Sĩ Liên Thời Lê sơ Biên niên tích hợp Xác lập cội nguồn Hồng Bàng (Ngũ Đế),
(ĐVSKTT 15Q) (1479) Kỷ truyện & Dã sử "Nho đạo tức Sử đạo", tôn sùng đạo trị nước.
Phạm Công Trứ Lê Trung hưng Biên niên Thực lục Thực lục hóa đế vương, sáng tạo thể thức
(ĐVSKTT 23Q) (1665) (Cảnh Trị thể lệ) "Phân chú" để xác định Chính thống triều Lê.
Lê Hy Lê Trung hưng Biên niên Toàn thư Hoàn thiện 24 quyển, định hình Chính Hòa,
(ĐVSKTT 24Q) (1697) (Chính Hòa thể lệ) nhấn mạnh vị thế lưỡng đầu Lê - Trịnh.
Implications đa chiều
- Về lý luận Hán Nôm và Văn bản học: Cung cấp phương pháp luận mới trong việc giám định thư tịch cổ Việt Nam: không đánh đồng dị bản giấy in với dị bản ván khắc, chú trọng phân tích bản tâm và đuôi quyển để bóc tách các giai đoạn bổ khắc mộc bản.
- Về phương pháp biên soạn lịch sử: Làm rõ kỹ thuật biên soạn kết hợp giữa thể Biên niên (Chronological) và Kỷ truyện (Biographical), đặc biệt là nghệ thuật sử dụng lối viết "Truyện trong Biên niên" của sử gia Việt Nam—một sáng tạo độc đáo so với sử học Trung Quốc.
- Về mặt tư tưởng chính trị: Chỉ ra sự vận hành tinh vi của "Xuân Thu bút pháp" qua kỹ thuật "Lưỡng hành phân chú" (兩行分註):
"Phàm phần tục biên thì dưới chỗ chép năm, nếu là niên hiệu không phải chính thống, cùng là niên hiệu của Bắc triều, thì đều chia ra làm hai dòng... Đó đều là để tôn chính thống mà truất tiếm ngụy, nêu lên giường mối lớn mà tỏ rõ gương răn" (凡所續編,其繫年之下,非正統者及北朝年號,皆兩行分註... 皆所以尊正統而黜僭偽,舉大綱而昭監戒耳).
Limitations và Future Research
- Giới hạn tiếp cận mộc bản vật thể: Do toàn bộ ván khắc gỗ thời Chính Hòa hiện không còn tồn tại nguyên vẹn trên thực địa mà chỉ lưu lại qua các bản ấn loát giấy, việc đo đạc hóa nghiệm tuổi của gỗ và mực in chưa thể thực hiện trực tiếp.
- Độ phân tán của các dị bản quốc tế: Mặc dù đã khảo sát 20 bản in, một số dị bản chép tay và in mộc bản lưu lạc tại các thư viện cá nhân ở nước ngoài chưa được đưa vào diện so sánh toàn văn tự động.
- Định hướng nghiên cứu tương lai:
- Số hóa và ứng dụng công nghệ nhận dạng ký tự quang học (OCR chữ Hán Nôm cổ) kết hợp phân tích đối sánh chuỗi văn bản tự động (Collating Algorithms) trên toàn bộ 20 dị bản ĐVSKTT.
- Mở rộng nghiên cứu đối chiếu mộc bản ĐVSKTT với hệ thống mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt).
- Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia về phương pháp viết sử giữa ĐVSKTT (Đại Việt), Triều Tiên vương triều thực lục (Triều Tiên) và Đại Minh thực lục (Trung Quốc).
Tác động và ảnh hưởng
- Học thuật: Tái lập độ xác tín của bản Démiville (NCQB), chấm dứt các nghi ngại kéo dài từ thập niên 1980 về giá trị của bản in Chính Hòa 1697, tạo cơ sở văn bản học vững chắc cho các công trình dịch thuật và hiệu đính quốc sử trong tương lai.
- Bảo tồn di sản: Cung cấp hồ sơ khoa học chi tiết về các ký hiệu thư tịch cổ (VHv.2330-2336, SA.PD 2310, Keio 322/10), phục vụ công tác bảo tồn di sản tư liệu Hán Nôm cấp quốc gia và quốc tế.
- Giáo dục đại học: Cung cấp khung tài liệu mẫu mực cho chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Hán Nôm, Lịch sử Việt Nam cổ trung đại và Phương pháp luận Sử học.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh & Giới nghiên cứu Hán Nôm: Nắm vững phương pháp bóc tách các tầng văn bản mộc bản phức hợp, kỹ thuật nhận diện chữ kiêng húy và phân tích bản tâm.
- Các nhà Sử học & Sử học sử (Historiographers): Thấu hiểu tiến trình vận động của tư tưởng chính thống, ý thức hệ Nho giáo và kỹ thuật trước thuật của sử quan phong kiến qua từng triều đại.
- Chuyên gia Lưu trữ & Thư viện học: Nhận diện chính xác niên đại, xuất xứ và giá trị thư tịch học của các bản in ĐVSKTT đang được lưu trữ rải rác trên toàn cầu.
- Nhà biên soạn quốc sử hiện đại: Kế thừa bài học kinh nghiệm của tiền nhân về tinh thần "trực bút", phương pháp xử lý tư liệu truyền thuyết và kỹ thuật biên niên khoa học.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Đóng góp độc đáo nhất là việc lý giải thành công Sự chuyển hóa hệ hình lý thuyết Kỷ truyện sang Biên niên trong Hồng Bàng thị kỷ. Ngô Sĩ Liên đã không sao chép máy móc phương pháp của Tư Mã Thiên hay Chu Hy, mà vận dụng cấu trúc Ngũ Đế bản kỷ để chính thống hóa nguồn sử liệu dã sử dân gian (Lĩnh Nam chích quái), thiết lập kỷ nguyên mở đầu của lịch sử dân tộc thành một "Bản kỷ" chính thức trong thể thức biên niên.
2. Đột phá phương pháp luận so với các nghiên cứu tiền biên quốc tế là gì?
So với Trần Kinh Hòa (1986) - người nghi ngờ bản Démiville do thiếu chữ húy, và A. Fedorin (2011) - người cho rằng NCQB là sách giáo khoa thế kỷ XVIII, luận án đột phá ở phương pháp Giải phẫu bản tâm liên hoàn kết hợp khảo sát chữ húy vi mô. Bằng cách chứng minh bản Démiville gồm hai đợt khắc ("ĐVSKTT" và "Việt sử") và chỉ ra chữ húy Trừ (除) của Trịnh Kiểm, tác giả đã hòa giải mâu thuẫn giữa các học giả quốc tế, xác quyết giá trị mộc bản thế kỷ XVII của bản NCQB.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu văn bản là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là cấu trúc Chữ khắc bản tâm phân hóa: Nửa đầu bộ sử mang tên Đại Việt sử ký toàn thư, nhưng từ quyển 8 Bản kỷ trở đi lại đổi thành Việt sử. Điều này chứng minh quá trình khắc in năm Chính Hòa 18 (1697) đã tích hợp trực tiếp các ván khắc sẵn có từ thời Cảnh Trị (1665) của Phạm Công Trứ chưa kịp hoàn thành ở Bí các.
SƠ ĐỒ BẢN TÂM ĐỐI CHIẾU TRONG BẢN NCQB DÉMIVILLE
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập (Replication Protocol) kiểm chứng văn bản không?
Có. Luận án xây dựng bảng danh mục chi tiết từng tờ bản thảo, vị trí bản tâm, dòng chữ đuôi quyển, danh sách chữ kiêng húy và tọa độ các vết nứt ván in trên từng trang của bản Démiville đối chiếu với bản VHv.2330-2336 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và bản 322/10 tại Văn khố Tư Đạo (Đại học Keio), cho phép bất kỳ chuyên gia văn bản học nào cũng có thể tái kiểm chứng độc lập.
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được vạch ra như thế nào?
Chương trình nghiên cứu tập trung vào 3 mũi nhọn:
- Hoàn thành bộ Toàn tập khảo dị văn bản Đại Việt sử ký toàn thư đối chiếu song song 20 dị bản trên thế giới.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa liên kết (Linked Open Data) về nhân vật, địa danh và quan chức trong ĐVSKTT.
- Nghiên cứu so sánh lịch sử viết sử khu vực Đông Á (Sử học so sánh Việt - Trung - Triều - Nhật).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Ye Shao Fei (Nguyễn Kim Măng) mang lại 5 đóng góp học thuật cốt lõi:
- Xác lập căn cước văn bản học vững chắc cho bản Nội các quan bản (NCQB): Chứng minh bản Démiville (Paris.2310) lưu giữ dấu tích mộc bản thời Lê - Trịnh (1697), kết hợp từ hai hệ thống ván in thời Cảnh Trị và Chính Hòa.
- Giải mã hoàn chỉnh cấu trúc Phàm lệ tục biên: Tái dựng bức tranh chuyển đổi thể tài phân quyển từ 15 quyển (Ngô Sĩ Liên), qua 23 quyển (Phạm Công Trứ) đến 24 quyển (Lê Hy).
- Làm sáng tỏ phương pháp viết sử tích hợp độc đáo của Việt Nam: Kết hợp nhuần nhuyễn thể Biên niên với Kỷ truyện, biến dã sử thành chính sử nhằm phục vụ ý thức tự tôn dân tộc.
- Hệ thống hóa tư tưởng sử học qua 400 năm: Phân tích sự tiến triển từ tư tưởng Nho giáo sơ kỳ của Lê Văn Hưu, tư tưởng "Nho đạo tức Sử đạo" của Ngô Sĩ Liên, đến ý thức hệ Chính thống lưỡng đầu thời Lê Trung hưng.
- Mở ra hướng tiếp cận liên ngành: Kết hợp chặt chẽ giữa Văn bản học Hán Nôm, Phương pháp luận Sử học Hà Văn Tấn và Khảo sát điền dã văn bia, thiết lập một chuẩn mực phương pháp luận mới cho ngành nghiên cứu cổ tịch Việt Nam.