Tổng quan luận án

Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) là bộ quốc sử có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử và văn hóa Việt Nam. Bộ sách được khởi đầu từ thời Trần với công trình Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu (1272), tiếp nối qua Đại Việt sử ký tục biên của Phan Phu Tiên (1445), được Ngô Sĩ Liên biên soạn thành 15 quyển vào năm 1479 thời Lê sơ. Đến thời Lê Trung hưng, Phạm Công Trứ tiến hành chỉnh lý và bổ sung thành 23 quyển vào năm 1665; cuối cùng Lê Hy tiếp tục biên soạn quyển thứ 24 và cho khắc in vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Do trải qua hơn 400 năm biên soạn với sự tham gia của nhiều thế hệ sử gia thuộc các thời đại lịch sử khác nhau, bộ quốc sử phản ánh sự đan xen phức tạp của nhiều lớp văn bản và hệ tư tưởng.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù ĐVSKTT đã thu hút sự chú ý của nhiều học giả trong và ngoài nước, việc công bố văn bản Nội các quan bản (NCQB) vẫn đặt ra nhiều vấn đề học thuật chưa thống nhất, đặc biệt là niên đại mộc bản, quá trình in ấn, cấu trúc phân quyển và dấu tích các lớp văn bản. Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét tư tưởng của từng cá nhân sử gia riêng lẻ mà chưa làm rõ một cách có hệ thống phương pháp biên soạn, sự kế thừa và tiến trình biến chuyển tư tưởng sử học qua các thời đại, cũng như ảnh hưởng của quyền lực chính trị đối với ngòi bút sử quan.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm:

  1. Làm rõ các lớp văn bản của bộ ĐVSKTT, quan điểm của từng sử gia tham gia biên soạn, chỉnh lý và hoàn thiện bộ sử từ thời Trần, Lê sơ đến Lê Trung hưng.
  2. Làm rõ phương pháp biên soạn (thể tài, hình thức tổ chức, bút pháp) và hệ thống tư tưởng sử học của các sử gia, qua đó tìm hiểu quá trình phát triển của lý luận sử học cổ đại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành ba nội dung:

  1. Sưu tập, hệ thống hóa và khảo cứu các văn bản ĐVSKTT (đặc biệt là hệ thống bản in năm Chính Hòa 1697); đối chiếu, so sánh để chọn văn bản NCQB lưu trữ tại Hội Á Châu (Paris, Pháp) làm bản nền nghiên cứu, kết hợp khảo sát các bản lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các thư viện quốc tế.
  2. Khảo sát diễn tiến văn bản, phân tích cấu trúc thiên chương, mộc bản, chữ húy và đặc điểm ấn loát của bản NCQB.
  3. Phân tích các thể biên soạn (Biên niên, Kỷ truyện, Cương mục) và hệ thống tư tưởng viết sử (tư tưởng Nho giáo, quan điểm Chính thống, ý thức dân tộc, tinh thần Thực lục) của các sử gia trong ĐVSKTT.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp viết sử (cách thức, thể tài, tư tưởng) của các tác giả ĐVSKTT và các sử gia Việt Nam; văn bản học ĐVSKTT, trọng tâm là bản in NCQB.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các văn bản của bộ ĐVSKTT và các thư tịch sử học liên quan như Đại Việt sử ký, Đại Việt sử lược, An Nam chí lược, Đại Việt thông sử, Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Về mặt thời gian lịch sử, luận án bao quát từ thời Lý (1010–1225) đến giai đoạn triều Lê Trung hưng cuối thế kỷ XVII.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo sáu cụm chủ đề chính:

  1. Về Mục lục học và Thư tịch học: Các nghiên cứu đặt nền móng của học giả Pháp như Léopold Cadière và Paul Pelliot (1904) trong "Première étude sur les sources annamites de l'histoire d'Annam"; Emile Gaspardone (1934) với "Bibliographie Annamite". Các công trình của Trần Văn Giáp (1936 dịch Nghệ văn chí và Thư tịch chí; 1964; 1970 với Tìm hiểu kho sách Hán Nôm); Huyền Khắc Dụng (1959 với Việt Nam sử liệu); Phùng Thừa Quân (1932 với An Nam thư mục); Yamamoto Tatsuro (1937); Trần Nghĩa và François Gros (1984); Lưu Xuân Ngân, Vương Tiểu Thuẫn và Trần Nghĩa (2002); Lưu Ngọc Quân (2008).
  2. Về mối quan hệ giữa các bộ sách sử với ĐVSKTT: Yamamoto Tatsuro (1952) so sánh Việt sử lược và Đại Việt sử ký; Trần Kinh Hòa (1980) xác định tác giả Việt sử lược là Trần Chu Phổ; Phan Huy Lê (1983) tổng thuật các khuynh hướng học thuật; Nguyễn Đổng Chi (1982) nghiên cứu văn bản Đại Việt sử ký tục biên; Trương Tiếu Mai và Quách Chấn Đạc (1997); Nguyễn Hữu Tâm (2009) về cơ quan soạn sử; Ngô Thu Yến (2009); Nguyễn Thị Oanh (2013) khảo sát 9 bản chép tay tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; Ngưu Quân Khải (2015) nghiên cứu phần Tục biên.
  3. Về phương pháp và tư tưởng viết sử: Nguyễn Phương (1962) phân tích quan niệm Trung - Hiếu và phương pháp sử của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên; O.W. Wolters (1979) nghiên cứu bối cảnh Nho học thời Trần tác động đến Lê Văn Hưu; Nguyễn Duy Hinh (1984) khảo sát tư tưởng Nho - Phật trong lời bàn sử; tập văn kiện hội thảo Ngô Sĩ Liên và ĐVSKTT (1998) với các bài viết của Phan Đại Doãn, Hà Văn Tấn, Đặng Văn Tu, Hoàng Hồng, Trần Bá Chí, Nguyễn Danh Phiệt, Nguyễn Thừa Hỷ, Momoki Shiro, Nguyễn Quang Ngọc; Hoàng Văn Lâu (1999) bàn về lối viết truyện trong biên niên sử; Đinh Quang Trung (2000); Yu InSun (2006) so sánh nhận thức lịch sử của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên; Văn Tạo (2008); Vương Phượng Hoa (2010); cùng các công bố trước đó của chính NCS Ye Shao Fei từ năm 2011 đến 2019.
  4. Về nội dung sử liệu: Văn Tân (1966) khảo đính sai lầm về địa lý, nhân vật; Wada Hironori (1978) khảo cứu ghi chép về Trần Hữu Lượng và Chu Nguyên Chương; Lê Thành Lân (1988) về niên đại nhà Mạc; Trần Nghĩa (1989) phát hiện chữ kiêng húy (chữ "Trừ" 除) trong bản NCQB; Nguyễn Hữu Sơn (2009) đối chiếu Nam ông mộng lục và ĐVSKTT; Nguyễn Công Việt (2010) khảo sát Thiên đô chiếu; Giả Cái Đông (2014) nghiên cứu tục tự; Phùng Tiểu Lộc và Trương Hoan (2016) khảo cứu thơ người Minh.
  5. Về các sử gia: Trần Huy Liệu (1959), Nguyễn Kha và Trần Huy Bá (1964) phát hiện văn bia và gia phả về Lê Văn Hưu tại Thiệu Hóa, Thanh Hóa; Đặng Đức Thi (1994, 2000); Tạ Ngọc Liễn (2000) nghiên cứu hành trạng và sự nghiệp viết sử của Nguyễn Quý Đức.
  6. Về các văn bản chỉnh lý đã công bố: Bản in của Toshiaki Hikita (1883 tại Nhật Bản); bản dịch tiếng Việt của Cao Huy Giu do Đào Duy Anh hiệu đính (1967, 1971); bản Hiệu hợp ĐVSKTT của Trần Kinh Hòa (1984–1986); bản in dịch kèm ảnh ấn của Nhà xuất bản Khoa học xã hội (1983, 1985, 1993, 2011) dựa trên bản do Phan Huy Lê mang về từ Paris.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Đi sâu giám định thực trạng văn bản học của bản NCQB (bản Démiville), phân tích chi tiết cấu trúc bản tâm, quyển thủ, quyển vĩ để chứng minh tính phức hợp của văn bản; phục dựng cấu trúc phân quyển gốc thời Lê Trung hưng; phân tích toàn diện mối liên hệ giữa các thể tài biên soạn với hệ thống tư tưởng sử học qua các thời kỳ lịch sử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án dựa trên lý luận sử học cổ đại phương Đông (Trung Quốc và Việt Nam), vận dụng phương pháp luận Sử học và Ngữ văn học Hán Nôm, kết hợp góc độ triết học lịch sử để phân tích tư tưởng của các sử gia. Luận án kế thừa quan điểm phương pháp luận sử học của Hà Văn Tấn về việc xử lý nguồn tư liệu sử học và phân tích sử liệu.

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể sau:

  • Phương pháp văn hiến học: Thực hiện khảo cứu, hiệu đính nguồn gốc văn bản, phân tích nghĩa tự (義字), văn pháp (文法), bối cảnh lịch sử (歷史) và tư tưởng (思想) được ghi chép trong văn bản.
  • Phương pháp văn bản học: Tiến hành khảo sát hình thức thư tịch, đối chiếu các bản in, phân tích bản tâm (版心), quyển thủ (卷首), quyển vĩ (卷尾), chữ kiêng húy, dị bản và nét khắc mộc bản để giám định niên đại và nguồn gốc văn bản.
  • Thao tác lý luận sử học: Đặt quá trình biên soạn bộ quốc sử vào tiến trình vận động lịch sử, làm rõ mối quan hệ giữa quyền lực chính trị phong kiến và ngòi bút của các sử quan qua từng thời đại.
  • Phương pháp khảo sát điền dã: Thu thập và đối chiếu tư liệu thực địa gồm văn bia, gia phả tại quê hương của các sử gia (như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên) để bổ sung chứng cứ cho nghiên cứu tiểu sử và hành trạng học thuật.

Nguồn tư liệu nghiên cứu:

  • Bản nền chính: Văn bản ĐVSKTT bản NCQB lưu trữ tại Hội Á Châu (Paris, Pháp), ký hiệu SA.PD 2310 (bản Paul Démiville).
  • Các bản so sánh đối chiếu: 5 bản lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (trong đó có bản VHv.2330–2336, A.3/4, A.2694/1-7, VHv.179/1-9, VHv.1499/1-9); 1 bản tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (ký hiệu R.1); 2 bản tại Văn khố Tư Đạo (Đại học Keio, Nhật Bản, ký hiệu 322/10 và 321/4); 1 bản tại Thư viện Đại học Tenri (Nhật Bản); bản Hiệu hợp ĐVSKTT của Trần Kinh Hòa; cùng các nguồn châu bản, văn bia thời Nguyễn và thời Lê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này trình bày bức tranh toàn cảnh về lịch sử nghiên cứu ĐVSKTT trong gần một thế kỷ. Tác giả tổng thuật chi tiết các thành tựu theo từng phân ngành: Thư tịch học, Văn bản học, Mối quan hệ giữa các bộ quốc sử, Phương pháp và tư tưởng biên soạn, Giám định sử liệu, Nghiên cứu hành trạng sử gia và Lịch sử chỉnh lý ấn bản. Luận án chỉ ra rằng dù các nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định ĐVSKTT là nguồn sử liệu căn bản của lịch sử Việt Nam, vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm trái chiều về niên đại khắc in thực sự của bản NCQB (giữa quan điểm cho là bản in thời Chính Hòa 1697 và quan điểm cho là bản in muộn thời Nguyễn hoặc thời Tây Sơn/cuối Lê Trung hưng). Từ đó, chương 1 xác lập định hướng nghiên cứu văn bản học kết hợp phân tích tư tưởng sử học có hệ thống.

Chương 2: Khảo sát văn bản và truyền bản ĐVSKTT

Chương 2 tập trung giám định hệ thống văn bản ĐVSKTT hiện còn, đối chiếu các bản in lưu trữ tại Việt Nam, Pháp và Nhật Bản. Luận án đi sâu phân tích bài "Phàm lệ tục biên" (續編凡例) của Lê Hy để tái dựng cấu trúc thiên chương và số quyển của bản biên soạn năm 1665 (Phạm Công Trứ) và bản khắc in năm 1697 (Lê Hy). Tác giả chỉ ra rằng thuật ngữ "Cựu sử" (舊史) trong phàm lệ của Lê Hy chính là để chỉ bản 23 quyển của Phạm Công Trứ.

Khảo sát chi tiết bản NCQB của Paul Démiville (SA.PD 2310), luận án phát hiện bản này không phải là một khối ấn loát đồng nhất mà được ghép lại từ hai bản in khác nhau:

  1. Bản thứ nhất (bản ĐVSKTT): Gồm các bài tựa ở quyển thủ, phần Ngoại kỷ toàn thư (quyển 1 đến quyển 5) và Bản kỷ toàn thư (quyển 1 đến quyển 7); bản tâm ở bộ thượng đều khắc rõ dòng chữ "Đại Việt sử ký toàn thư" (大越史記全書).
  2. Bản thứ hai (bản Việt sử): Từ Bản kỷ toàn thư quyển 8 đến Bản kỷ tục biên quyển 19; bản tâm khắc các tiêu đề "Việt sử bản kỷ" (越史本紀), "Việt sử thực lục" (越史實錄), "Việt sử tục biên" (越史續編), và ở quyển 11 khắc "Đại Việt sử ký thông giám tục biên".
STT Quyển / Phần Bản tâm bộ thượng Bản tâm bộ trung Bản tâm bộ hạ / Ghi chú
1 Quyển thủ (Tựa, Biểu, Phàm lệ, Mục lục) Đại Việt sử ký toàn thư (大越史記全書) Tên mục tương ứng (Tự, Biểu, Phàm lệ, Mục lục) Thuộc nhóm bản "Đại Việt sử ký toàn thư"
2 Việt giám thông khảo tổng luận (Lê Tung) Việt giám thông khảo tổng luận (越鑑通考總論) Không ghi Công trình độc lập được nhập vào đầu sách
3 Ngoại kỷ toàn thư (Quyển 1 đến Quyển 5) Đại Việt sử ký toàn thư (大越史記全書) Tên kỷ (Hồng Bàng thị, Thục, Triệu, Sĩ Vương...) Bản tâm thống nhất dòng chữ "Đại Việt sử ký toàn thư"
4 Bản kỷ toàn thư (Quyển 1 đến Quyển 7) Đại Việt sử ký toàn thư (大越史記全書) Tên kỷ triều đại (Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần...) Thuộc nhóm bản "Đại Việt sử ký toàn thư"
5 Bản kỷ toàn thư (Quyển 8 đến Quyển 10) Việt sử bản kỷ (越史本紀) Tên kỷ triều đại Chuyển sang hệ thống chữ khắc của bản "Việt sử"
6 Bản kỷ thực lục (Quyển 11 đến Quyển 15) Việt sử thực lục (越史實錄) Tên kỷ triều vua thời Lê sơ Bản tâm đổi sang khắc "Việt sử thực lục"
7 Bản kỷ tục biên (Quyển 16 đến Quyển 19) Việt sử tục biên (越史續編) Tên kỷ triều vua thời Lê Trung hưng Riêng quyển 11 khắc "Đại Việt sử ký thông giám tục biên"

Luận án khẳng định bản NCQB đã có sự xáo trộn, chia tách hoặc hợp nhất các quyển so với cấu trúc bản Chính Hòa nguyên gốc của Lê Hy (chia Ngoại kỷ thành 5 quyển và đánh số lại hệ thống bản kỷ thành 19 quyển). Đồng thời, tác giả khảo sát bản VHv.2330–2336 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và chỉ ra bản này có mối liên hệ gần gũi với bản NCQB.

Chương 3: Các thể biên soạn của ĐVSKTT

Chương 3 khảo sát và phân loại các hình thức thể tài được vận dụng trong ĐVSKTT qua từng thời kỳ:

  • Thể biên soạn của Lê Văn Hưu: Kế thừa thể Biên niên truyền thống, kết hợp phương thức bình luận sử học ("Lê Văn Hưu viết" 黎文休曰) để thể hiện quan điểm đánh giá nhân vật, sự kiện.
  • Thể biên soạn của Ngô Sĩ Liên: Tiếp thu ảnh hưởng từ thể Kỷ truyện của Tư Mã Thiên (Sử ký) và thể Biên niên của Tư Mã Quang (Tư trị thông giám). Ngô Sĩ Liên xác lập cấu trúc phân chia rành mạch giữa Ngoại kỷ (từ họ Hồng Bàng đến 12 sứ quân) và Bản kỷ (từ Đinh Tiên Hoàng trở về sau), đồng thời đưa lối viết truyện nhân vật vào mạch biên niên của quốc sử.
  • Thể tài Bản kỷ thực lục và Bản kỷ tục biên của Phạm Công Trứ và Lê Hy: Thiết lập quy chế phân định thời kỳ lịch sử; sử dụng khái niệm Thực lục để chép thời Lê sơ và Tục biên để chép thời Lê Trung hưng.
  • Vận dụng thể tài Cương mục: Tiếp thu cấu trúc từ Tư trị thông giám cương mục của Chu Hy, sử dụng bút pháp "Đại thư" (大書 - viết chữ lớn cho sự kiện chính thống) và "Phân chú" (分注 - chia hai dòng chữ nhỏ ghi chú phía dưới đối với niên hiệu không chính thống, nhà Mạc cướp ngôi, hoặc niên hiệu Bắc triều) nhằm biểu đạt nguyên tắc "tôn chính thống, truất tiếm ngụy".

Chương 4: Tư tưởng viết sử trong bộ ĐVSKTT

Chương 4 phân tích sự diễn tiến tư tưởng sử học qua ba giai đoạn lịch sử:

  • Tư tưởng của sử gia thời Trần (Lê Văn Hưu): Đặt nền móng Nho giáo trong việc đánh giá chính trị, lấy tiêu chuẩn đạo đức (Trung, Hiếu, Lễ, Nghĩa) và vương đạo làm thước đo; phê phán gay gắt những biểu hiện suy đồi luân lý và sự lạm dụng Phật giáo trong triều đình thời Lý - Trần.
  • Tư tưởng của sử gia thời Lê sơ (Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên): Nho giáo giữ vị trí độc tôn ("Nho đạo tức Sử đạo"). Ngô Sĩ Liên thể hiện ý thức tự tôn dân tộc sâu sắc thông qua việc mở rộng biên niên sử về họ Hồng Bàng và Thục Phán An Dương Vương, xác lập cội nguồn quốc thống độc lập nghìn năm sánh ngang với các triều đại thần thoại phương Bắc. Sử bút thời kỳ này mang tính răn dạy đạo đức chính trị mạnh mẽ, phục vụ trực tiếp cho việc củng cố thiết chế quân chủ tập quyền thời Lê Thánh Tông.
  • Tư tưởng của sử gia thời Lê Trung hưng (Phạm Công Trứ, Lê Hy): Chịu sự chi phối sâu sắc của bối cảnh lưỡng đầu chính trị Lê - Trịnh. Các sử gia duy trì danh nghĩa tôn vương (phù Lê) song lồng ghép tư tưởng đề cao sự nghiệp và quyền lực của các chúa Trịnh; bảo vệ tính chính thống của dòng vua Lê Trang Tông chống lại nhà Mạc, thể hiện tính thỏa hiệp và tính giai cấp trong việc biên soạn quốc sử.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học như sau:

  • Về văn bản học: Luận án phân loại và hệ thống hóa các dị bản ĐVSKTT hiện lưu trữ trong và ngoài nước. Bằng phương pháp giám định bản tâm, quyển thủ, quyển vĩ và chữ khắc, luận án chứng minh bản NCQB (bản SA.PD 2310 của Paul Démiville) là một văn bản phức hợp được tạo thành từ hai bản in khác nhau ("Đại Việt sử ký toàn thư" và "Việt sử"). Luận án làm rõ quá trình phân chia, tái cấu trúc các quyển và chứng minh bản NCQB đã làm thay đổi bố cục phân quyển gốc thời Chính Hòa (1697).
  • Về phương pháp biên soạn: Luận án hệ thống hóa các thể tài biên soạn xuất hiện trong ĐVSKTT, làm rõ sự kết hợp linh hoạt giữa thể Biên niên, thể Kỷ truyện và thể Cương mục (kỹ thuật Đại thư và Phân chú) qua các thời kỳ biên tập.
  • Về tư tưởng sử học: Luận án phân tích sự phát triển có tính quy luật của tư tưởng sử học Việt Nam từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII: từ quan điểm Nho giáo sơ kỳ thời Trần, đến ý thức quốc thống - cội nguồn dân tộc thời Lê sơ, và tư tưởng chính thống gắn với thể chế Lê - Trịnh thời Lê Trung hưng.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất: Luận án đề xuất giới nghiên cứu văn hiến Hán Nôm cần tiếp tục xử lý thận trọng khi sử dụng bản in NCQB làm bản nền; cần phân biệt rõ giữa niên đại của ván khắc (mộc bản) và niên đại in trên giấy của từng phần sách. Tác giả kiến nghị đẩy mạnh việc đối chiếu đa phương diện giữa các bản in tại Thư viện Quốc gia, Viện Nghiên cứu Hán Nôm với các bản lưu trữ tại Nhật Bản và Pháp nhằm phục dựng toàn diện diện mạo nguyên bản của quốc sử thời Lê.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án: Do điều kiện phân tán của nguồn tư liệu cổ và sự thất truyền của các bản thảo gốc thời Trần và thời Lê sơ (như bản thảo 15 quyển của Ngô Sĩ Liên, sách của Phan Phu Tiên, Vũ Quỳnh), việc khảo sát các lớp văn bản thời kỳ đầu chủ yếu phải dựa vào sự kế thừa gián tiếp trong các bản in thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn. Mặt khác, các bộ mộc bản gốc thời Chính Hòa hiện không còn nguyên vẹn hoàn toàn tại các kho lưu trữ trong nước.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng khảo sát các bản in ĐVSKTT thời Nguyễn (như các bản Quốc tử giám A.3/4, VHv.179, VHv.1499), so sánh sâu hơn các dấu tích sửa bản, khoét chữ, bổ sung mộc bản thời Tự Đức; đồng thời đi sâu nghiên cứu hệ thống văn bản Đại Việt sử ký tục biên giai đoạn 1676–1789 để làm sáng tỏ tiến trình sử học giai đoạn cuối thời Lê Trung hưng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Hán Nôm, Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Văn bản học và Sử học sử.
  • Các chuyên gia lưu trữ, giám định cổ thư tại các viện nghiên cứu, thư viện và trung tâm bảo tồn di sản Hán Nôm.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:

  • Quy trình giám định văn bản học mộc bản thông qua cấu trúc bản tâm, quyển thủ, quyển vĩ ở Chương 2.
  • Bảng phân tích đối chiếu bố cục thiên chương và diễn tiến phân quyển giữa bản của Phạm Công Trứ, Lê Hy và bản NCQB.
  • Khung phân tích sự dung hợp các thể tài biên soạn sử học phương Đông (Biên niên, Kỷ truyện, Cương mục) ở Chương 3.
  • Hệ thống hóa các luận điểm về tư tưởng sử học và quan điểm chính thống của các sử quan thời Trần - Lê ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Bản ĐVSKTT "Nội các quan bản" của Paul Démiville có phải là một bản in hoàn toàn đồng nhất được khắc cùng thời điểm năm 1697 không?
Không. Khảo sát của luận án trên bản tâm, quyển thủ và quyển vĩ cho thấy bản Démiville (SA.PD 2310) thực chất được ghép lại từ hai bản in khác nhau: nửa đầu (từ các bài tựa, Ngoại kỷ đến Bản kỷ quyển 7) có bản tâm khắc chữ "Đại Việt sử ký toàn thư"; nửa sau (từ Bản kỷ quyển 8 đến Bản kỷ tục biên quyển 19) có bản tâm khắc các chữ "Việt sử bản kỷ", "Việt sử thực lục", "Việt sử tục biên".

2. Cụm từ "Cựu sử" (舊史) trong bài "Phàm lệ tục biên" của Lê Hy được luận án xác định là chỉ bộ sách nào?
Luận án chỉ ra rằng "Cựu sử" trong bài phàm lệ của Lê Hy chính là bộ sách ĐVSKTT gồm 23 quyển do Phạm Công Trứ biên soạn và hoàn thành vào năm Cảnh Trị thứ 3 (1665), chứ không phải là các bản thảo rời rạc hay bản 15 quyển của Ngô Sĩ Liên.

3. Bản in NCQB của ĐVSKTT có xuất hiện chữ kiêng húy không?
Có. Trái với quan điểm trước đây của một số học giả cho rằng bản NCQB hoàn toàn không kiêng húy, luận án dẫn chứng kết quả khảo sát cho thấy văn bản này có xuất hiện chữ kiêng húy (tiêu biểu như chữ "Trừ" 除), đồng thời trên các mộc bản in lại thời Nguyễn có dấu tích khoét chữ húy của các vua triều Nguyễn.

4. Kỹ thuật biên soạn "Đại thư" và "Phân chú" theo thể Cương mục được sử gia ĐVSKTT vận dụng như thế nào?
Kỹ thuật này được vận dụng rõ rệt từ thời Phạm Công Trứ và Lê Hy: các sự kiện và vương triều được coi là chính thống thì viết bằng chữ lớn ("Đại thư"); các triều đại bị coi là tiếm nghịch (như nhà Mạc giai đoạn 1527–1532) hoặc niên hiệu Bắc triều thì chia làm hai dòng chữ nhỏ viết thụt xuống dưới thứ tự năm ("Phân chú") nhằm răn dạy và biểu đạt quan điểm tôn ti chính thống.

5. Điểm khác biệt căn bản trong việc xác lập cội nguồn quốc sử giữa Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên là gì?
Lê Văn Hưu khởi đầu bộ Đại Việt sử ký từ Triệu Vũ Đế (nhà Triệu), trong khi Ngô Sĩ Liên đã mở rộng đường biên lịch sử bằng việc đưa Kỷ Hồng Bàng thị (Kinh Dương Vương, Hùng Vương) và Kỷ Thục Phán An Dương Vương vào phần Ngoại kỷ toàn thư, chính thức xác lập cội nguồn lịch sử dân tộc độc lập từ thời lập quốc thần thoại.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Hán Nôm của NCS Ye Shao Fei là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp biên soạn và tư tưởng sử học của các sử gia Việt Nam qua bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư. Thông qua các thao tác văn bản học và văn hiến học nghiêm cẩn, tác giả đã chứng minh tính phức hợp về mặt ấn loát của bản Nội các quan bản, đồng thời phục dựng lại diễn tiến phân chia quyển và cấu trúc thiên chương thời Lê Trung hưng. Công trình cũng làm sáng tỏ sự tích hợp linh hoạt giữa các thể tài Biên niên, Kỷ truyện, Cương mục và chỉ ra quá trình phát triển của hệ tư tưởng sử học từ thời Trần qua thời Lê sơ đến thời Lê Trung hưng. Kết quả nghiên cứu cung cấp những căn cứ quan trọng cho việc tiếp cận, giám định văn bản và khai thác nguồn sử liệu Hán Nôm cổ trung đại.