đặt vấn đề, trò giải quyết vấn đề đó. Thực hiện dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 1. Quy trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Theo quan điểm của nguyễn Bá Kim [14, tr.147] quá trình nghiên cứu phát hiện và giải quyết vấn đề có thể chia thành các bước sau: Bước 1: Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề - Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề (thường do thầy tạo ra), có thể liên tưởng những cách suy nghĩ tìm tòi, dự đoán. - Giải thích và chính xác hóa tình huống để hiểu đúng vấn đề được đặt ra.
- Phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó. Bước 2: Tìm giải pháp - Tìm một giải pháp vấn đề thường được thực hiện theo sơ đồ sau: Bắt đầu Phân tích vấn đề Đề xuất và thực hiện hƣớng giải quyết Hình thành giải pháp Giải pháp đúng + Kết thúc Sơ đồ 1. Tìm giải pháp của quy trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau khi đã tìm ra một giải pháp, có thể tiếp tục tìm thêm những giải pháp khác (theo sơ đồ trên), so sánh chúng với nhau để tìm ra giải pháp hợp lí nhất. Bước 3: Trình bày giải pháp Khi đã giải quyết được vấn đề đặt ra, người học trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề cho tới giải pháp.
Nêu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại vấn đề. Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp - Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả. - Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ nhận xét tương tự, khái quát hóa, lật ngược vấn đề,.và giải quyết nếu có thể. Một số cách thông dụng để tạo tình huống gợi vấn đề Để thực hiện dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, điểm xuất phát là tạo ra tình huống gợi vấn đề.
Một số giáo viên nghĩ rằng dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề tuy hay nhưng ít có cơ hội thực hiện do khó tạo được nhiều tình huống gợi vấn đề. Sau đây là một số cách tạo tình huống gợi vấn đề rất phổ biến, dễ gặp và dễ thiết lập nên có thể áp dụng trong dạy học môn Toán. - Gợi vấn đề dựa vào tình huống có thực trong thực tiễn. - Tạo tình huống có vấn đề từ các kiến thức đã biết bằng cách biến đổi tình huống chưa có vấn đề thành một tình huống khác có vấn đề.
- Gợi vấn đề bằng cách lật ngược vấn đề. Nếu có mệnh đề đúng P Q thì lật ngược vấn đề là việc xét xem mệnh đề Q P có phải là mệnh đề đúng hay không. Trong toán học lật ngược vấn đề là một hoạt động tư duy tương đối phổ biến mang lại cho học sinh nhiều điều bổ ích. Tạo tình huống gợi vấn đề nhờ lật ngược vấn đề nhằm giúp học sinh phát hiện ra những mệnh đề, những bài toán mới, hoặc có thể nhằm mục đích tìm hiểu sâu, hơn về một số chủ đề kiến thức.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc tạo tình huống nhờ lật ngược vấn đề không chỉ tạo ra hoạt động tìm kiếm kiến thức, mà còn có tác dụng tới phát triển năng lực tư duy thuận nghịch cho học sinh. - Gợi vấn đề bằng cách xem xét tương tự Theo từ điển tiếng Việt “tương tự’’ có nghĩa là: “hơi giống nhau”.Polya: “Tương tự là một kiểu giống nhau nào đó. Có thể nói tương tự là giống nhau nhưng ở mức độ xác định hơn một chút”. Sự khác nhau cơ bản giữa “tương tự” và “những loại giống nhau” là ở ý định người đang suy nghĩ.
Những đối tượng giống nhau phù hợp với nhau trong một quan hệ nào đó. Vấn đề tương tự của bài toán có thể xem xét dưới các khía cạnh sau: - Chúng có đường lối giải, phương pháp giải giống nhau. - Nội dung của chúng có những điểm giống nhau, có giả thiết hoặc kết luận giống nhau. - Chúng đề cập đến những vấn đề giống nhau, những đối tượng có tính chất giống nhau.
Từ một số tính chất giống nhau của hai đối tượng, ta có thể dự đoán một số có tính chất giống nhau khác của chúng: Chẳng hạn, nếu đối tượng M có tính chất a, b, c, d còn đối tượng N có tính chất a, b, c thì N cũng có thể có tính chất d. Việc sử dụng bài toán tương tự nhằm tạo ra cái “bẫy” học sinh dễ mắc phải nếu không biết di chuyển các hoạt động trí tuệ một cách linh hoạt, không khắc phục được cách suy nghĩ máy móc, rập khuôn. - Gợi vấn đề khái quát hoá Theo G.Polya: “Khái quát hóa là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp đối tượng đã cho đến việc nghiên cứu một tập hợp lớn hơn tập hợp ban đầu” [22, tr. Nói cách khác, khái quát hóa là nêu bật những điểm chung, bản chất của nhiều sự vật, hiện tượng riêng biệt.
Trong Toán học cũng như trong các khoa học khác, nhiều kết quả đã đạt được nhờ cách khái quát hóa. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Gợi vấn đề đặc biệt hoá.Polya: “Đặc biệt hóa là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp đối tượng đã cho sang việc nghiên cứu một tập hợp nhỏ hơn chứa trong tập hợp đã cho” [23, tr. Biện pháp đặc biệt hóa thường được tiến hành khi chuyển từ cả một lớp đối tượng đến một đối tượng của lớp đó. Chẳng hạn: Đặc biệt hóa có vai trò rất quan trọng trong khi giải toán.
Khi cho một mệnh đề mà ta giả thiết là tổng quát và liên quan đến một tập hợp đối tượng nào đó. - Nêu một bài toán mà việc giải bài toán đó dẫn đến một kiến thức mới. - Gợi vấn đề từ sai lầm trong lời giải. Piaget đã nói: “Chỉ có sự hoạt động được giáo viên thường xuyên định hướng và khích lệ nhưng vẫn luôn luôn tự do trong việc mò mẫm và ngay cả trong những sai lầm mới có thể đưa tới sự độc lập về mặt trí tuệ” Trong môn Toán có nhiều tình huống dạy học điển hình, nhưng có thể xem rằng giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động toán học.
Bởi vậy, bản chất của vấn đề là chúng ta cho học sinh được thử thách với những bài toán dễ mắc sai lầm. Cần phải tập cho học sinh phát hiện chỗ sai trong lời giải, tìm nguyên nhân và đề xuất cách giải đúng như G. Pôlya đã nói: “Con người phải biết học ở những sai lầm và thiếu sót của mình” hay A. Stoliar nhấn mạnh: Không được tiếc thời gian để phân tích trên giờ học những sai lầm của học sinh”.
Bởi vì, khi biết bị sai lầm do những lỗi kiến thức cơ bản, học sinh mới thực sự thấm thía việc cần phải hiểu sâu sắc bản chất của từng tri thức đã lĩnh hội và quan trọng là người học thấy thực sự cần thiết phải tự kiểm tra lại từng bước lập luận trong quá trình tìm tòi lời giải bài toán. Kômenxki khẳng định: “Bất kỳ một sai lầm nào cũng có thể làm cho học sinh kém đi nếu như giáo viên không chú ý ngay tới sai lầm đó bằng cách hướng dẫn học sinh tự nhận ra và sửa chữa khắc phục sai lầm”. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để giúp người học có phương pháp nhận biết lời giải sai, Lê Thống Nhất cho rằng cần trang bị cho họ những dấu hiệu quan trọng sau: - Kết quả lời giải của bài toán mâu thuẫn với kết quả trong trường hợp riêng. - Trường hợp riêng của kết quả không thoả mãn bài toán.
- Kết quả lời giải không chứa kết quả trong trường hợp riêng. - Kết quả tìm được mâu thuẫn với thực tế. - Kết quả không bình đẳng giữa các yếu tố bình đẳng ở giả thiết. - Kết quả của lời giải này khác kết quả của lời giải khác.
- Đơn vị đo ở hai vế của một đẳng thức khác nhau. Cuối cùng chúng ta phải nói rằng khi thấy người học mắc sai lầm nói chung không nên bác bỏ ngay sai lầm đó mà cố gắng dẫn dắt khích lệ họ tự nhận thức được sai lầm của mình. - Gợi vấn đề bằng cách dự đoán nhờ nhận xét trực quan hoặc thực nghiệm. Một tình huống tâm lý sẽ xuất hiện nhờ hiệu ứng của quá trình và hành động phản ánh: Tri giác, nhớ lại, ngạc nhiên, hứng thú,… của mỗi cá nhân người học gọi là tình huống gợi vấn đề.
Cùng với nội dung dạy học, tính vấn đề có một giới hạn tương thích với cấu trúc lôgic của nội dung đó. Phương pháp dạy học (PPDH) nào đảm bảo khai thác và làm bộc lộ tính vấn đề sẵn có của nội dung thành những tình huống vấn đề (nhiệm vụ tình thế thử thách) ở người học, thì PPDH đó có tính tích cực. Chúng càng đạt mức độ tích cực cao nếu khả năng làm bộc lộ tình huống vấn đề càng gần tới giới hạn định sẵn của nội dung học tập. Khi tình huống này xuất hiện ở nhiều cá nhân thì PPDH lúc ấy có tính chất hoạt động hóa.
- Tạo tình huống có vấn đề từ việc giải bài toán mà ngưòi học chưa biết thuật giải. Khi học sinh được giao một bài tập mà họ chưa biết thuật giải tức là họ được đưa vào tình huống có bao hàm một vấn đề. Vấn đề này gợi nhu cầu nhận thức và khơi dậy họ niềm tin và khả năng huy động tri thức, kỹ năng của bản thân vào việc giải quyết vấn đề, bởi vì kinh nghiệm từ quá trình học tập cho thấy rằng mỗi bài tập thầy ra đều dẫn đến một tri thức bổ ích, hoặc giúp củng cố một 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tri thức đã học hay rèn luyện một kỹ năng nào đó, và họ cũng thấy rằng khi giải những bài tập như vậy chỉ cần sử dụng những tri thức đã được học. Tuy vậy, tình huống này cũng có những hạn chế sau: Thứ nhất, việc gợi nhu cầu GQVĐ và khơi dậy ở học sinh niềm tin vào khả năng huy động tri thức, kỹ năng của bản thân còn phụ thuộc quá trình làm việc của thầy giáo.
Trong quá trình dạy học, nếu giáo viên ra quá nhiều bài tập xa lạ đối với yêu cầu của chương trình và quá khó đối với đa số học sinh thì tác dụng gợi nhu cầu nhận thức và khơi dậy niềm tin vào khả năng huy động tri thức, kỹ năng của bản thân người học trong tình huống bài tập nói chung sẽ bị giảm sút hoặc không còn. Trong trường hợp đó, tình huống này chưa chắc đã là tình huống gợi vấn đề.