PHẦN MỞ ĐẦU 1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong nhiều thập niên gần đây, sự bùng nổ của khoa học kĩ thuật và công nghệ thông tin cùng với quá trình toàn cầu hóa đã làm thay đổi nhiều mặt của thế giới nhƣ kinh tế, xã hội, giáo dục. Sự thay đổi này đòi hỏi đội ngũ nguồn nhân lực phải có nhiều kỹ năng, kiến thức, phải năng động, phải sáng tạo để đáp ứng kịp thời. Nhân tố con ngƣời luôn đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nƣớc trong mọi lĩnh vực. Vì vậy, không chỉ Việt Nam mà tất cả các nƣớc trên thế giới đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo có vị trí quan trọng trong chiến lƣợc con ngƣời, chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Nguồn tài nguyên và sự giàu có của một quốc gia không phải nằm trong lòng đất mà nằm trong bản thân con ngƣời, trí tuệ con ngƣời. Thực tiễn cho thấy rằng không một quốc gia nào muốn phát triển mà ít đầu tƣ cho giáo dục. Chính vì thế, sự phát triển của một đất nƣớc phần lớn thể hiện qua sự phát triển của nền giáo dục đất nƣớc đó, nó đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nƣớc.
Dù là một quốc gia phát triển, đang phát triển hay chậm phát triển thì nền giáo dục cũng phải đối mặt với những thách thức của thời đại. Ngày nay, cải cách giáo dục của các nƣớc hƣớng tới sự phát triển một nền giáo dục nhân văn, phát triển khả năng công nghệ, tinh thần công dân, tinh thần dân tộc và hƣớng tới việc phát triển một tƣơng lai bền vững. Với mục tiêu đƣa nƣớc Việt Nam cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc năm 2020 thúc đẩy quá trình hội nhập và phát triển đất nƣớc đã và đang diễn ra mạnh mẽ. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần IX đã đề ra chủ trƣơng và phƣơng hƣớng cơ bản về phát triển giáo dục mà nội dung chính là yêu cầu nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện: đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy và học, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa giáo 1 Luan van dục thực hiện công bằng trong giáo dục và xây dựng xã hội học tập.Và có thể nói, việc định hƣớng cho ngƣời học lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực cá nhân và nhu cầu xã hội có vai trò nhất định trong công cuộc phát triển của mỗi quốc gia.
Trong những năm qua, hệ thống giáo dục ở nƣớc ta phát triển mạnh ở tất cả các cấp học. Tuy nhiên, việc giúp học sinh có những hiểu biết về nghề nghiệp để định hƣớng, lựa chọn ngành nghề phù hợp với sở thích cá nhân cũng nhƣ năng lực bản thân và nhu cầu xã hội còn nhiều hạn chế. Hiện nay việc học và thi nghề phổ thông còn nhiều bất cập, vẫn còn phụ huynh, học sinh và một số ít giáo viên xem việc học nghề của học sinh với mục đích có điểm cộng khi xét tuyển hoặc thi tuyển vào PTTH. Chƣơng trình dạy nghề nhìn chung còn mang nặng tính lý thuyết, điều kiện cơ sở vật chất để học sinh thực hành chƣa đảm bảo.
Do đó, tình trạng dạy “chay”, học “chay” vẫn còn diễn ra. Điều này đã tạo cho học sinh tâm lý bị động, không có hứng thú đối với các tiết học nghề trong các trƣờng phổ thông. Tuy nhiên, công tác dạy và học nghề phổ thông bấy lâu nay vẫn đƣợc thực hiện với mục tiêu bổ sung các kỹ năng thực tế, bên cạnh học kiến thức các môn văn hóa cho học sinh. Đó thực sự là kỹ năng sống, là những bài học rất bổ ích và lý thú cho học sinh, tạo điều kiện cho học sinh đƣợc tiếp cận và thử sức trong lao động nghề nghiệp, biết gắn kết giữa học và hành, giữa lý luận với thực tiễn, thông qua đó học sinh sẽ thể hiện hứng thú nghề nghiệp trong học tập và đƣợc giáo dục hƣớng nghiệp.
Ngoài ra, mục tiêu của chƣơng trình dạy nghề còn là để phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS sang học các trƣờng dạy nghề, góp phần giải quyết tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”. Vì vậy, khuynh hƣớng chuyển đổi hình thức dạy học truyền thống sang hình thức đào tạo theo năng lực thực hiện là tất yếu. Việc thay đổi đó đòi hỏi ngƣời dạy phải thay đổi phƣơng pháp trong giảng dạy cho phù hợp với đặc trƣng từng bộ môn để nâng cao chất lƣợng giáo dục. 2 Luan van Từ những lý do trên, với vai trò là ngƣời giáo viên dạy nghề, tác giả luôn mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu và ứng dụng phƣơng pháp dạy học nhằm đƣa học sinh vào vị trí chủ thể phát huy tính tích cực, tự lực của mình để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực sáng tạo góp phần nâng cao chất lƣợng học tập.
Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Tổ chức dạy học theo dự án nghề nấu ăn cho học sinh lớp 8 Trƣờng THCS Phong Phú, Huyện Bình Chánh” làm luận văn tốt nghiệp. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Tổ chức DHTDA nghề nấu ăn khối THCS cho HS lớp 8 trƣờng THCS Phong Phú nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Để tổ chức DHTDA nghề nấu ăn khối THCS có hiệu quả cao cần thực hiện các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc tổ chức dạy học theo dự án đối với nghề nấu ăn khối THCS. - Khảo sát thực trạng và nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc giảng dạy nghề nấu ăn hiện nay tại trƣờng THCS Phong Phú, huyện Bình Chánh.
-Tổ chức DHTDA nghề nấu ăn cho HS lớp 8 tại trƣờng THCS Phong Phú, huyện Bình Chánh nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học. - Kiểm nghiệm đánh giá việc tổ chứcDHTDA nghề nấu ăn tại trƣờng THCS Phong Phú. ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 4. Đối tƣợng nghiên cứu Dạy học theo dự án nghề nấu ăn khối THCS ở trƣờng THCS Phong Phú, huyện Bình Chánh.
Khách thể nghiên cứu Hoạt động dạy và học nghề tại trƣờng THCS Phong Phú. Chƣơng trình dạy nghề nấu ăn khối THCS của Bộ Giáo dục và đào tạo. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Nếu tổ chức DHTDA nghề nấu ăn do tác giả đề xuất phù hợp với thực tế nhà trƣờng sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học nghề phổ thông cho học sinh trƣờng THCS Phong Phú. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU Do hạn chế về thời gian nên đề tài nghiên cứu việc vận dụng DHTDA cho nội dung thực hành chủ đề: Các thành phần dinh dƣỡng trong thực phẩm, chế biến món ăn có sử dụng nhiệt trong chƣơng trình dạy nghề nấu ăn khối THCS và tiến hành thực nghiệm tại trƣờng THCS Phong Phú, huyện Bình Chánh, Tp.
Hồ Chí Minh. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu sau: 7. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận - Nghiên cứu các tài liệu, sách, tạp chí, các văn kiện, các nghị quyết… để phân tích và chọn lọc để vận dụng vào đề tài.2 Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn - Phƣơng pháp khảo sát điều tra: Dùng phiếu câu hỏi (Anket) - Phƣơng pháp quan sát: Quan sát hoạt động học tập trên lớp - Phƣơng pháp phỏng vấn: Trao đổi với Ban giám hiệu, giáo viên giảng dạy ở lớp 8 để nắm tình hình dạy nghề nấu ăn. Trò chuyện với học sinh về việc học và thái độ của các em khi học môn này.
- Phƣơng pháp thực nghiệm: Tác giả chọn trƣờng THCS Phong Phú huyện Bình Chánh khối lớp 8 để tiến hành thực nghiệm và đối chứng. Nội dung TN là phƣơng pháp giảng dạy theo hƣớng tích cực hóa ngƣời học. - Phƣơng pháp chuyên gia: Tác giả tiến hành xin ý kiến chuyên gia là CBQL, GV có nhiều kinh nghiệm đang công tác tại các trƣờng THCS, TTKTTHHN huyện Bình Chánh. Nội dung xin ý kiến là tính khả thi về tiến trình DHTDA nghề nấu ăn và các dự án học tập.
Phƣơng pháp thống kê, phân tích dữ liệu Thống kê, tổng hợp các số liệu trong quá trình thực nghiệm để từ đó phân tích, đánh giá và đƣa ra những kết luận hoặc điều chỉnh nội dung nghiên cứu. ĐÓNG CỦA ĐỀ TÀIGÓP Vận dụng DHTDA vào nghề nấu ăn để nâng cao chất lƣợng dạy nghề theo hƣớng tích cực hóa ngƣời học nghề nấu ăn tại trƣờng THCS Phong Phú huyện Bình Chánh, TP. 5 Luan van PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Khái niệm dự án đã đƣợc sử dụng từ lâu trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên thế giới, đặc biệt ở các nƣớc phát triển, bắt đầu từ nƣớc Pháp và Ý (thế kỉ 17, 18), từ đó lan rộng ở Đức và một số nƣớc Châu Âu và ở Mỹ (khoảng giữa thế kỉ 19). Phƣơng pháp dự án đƣợc ứng dụng khá rộng và khá hiệu quả ở các nƣớc phƣơng Tây từ cuối thế kỉ 19 và về sau ngày càng phát triển. Cụ thể, ở Đức giai đoạn 1895 – 1933 các nhà sƣ phạm đã phát triển quan điểm dạy học mới liên quan đến ứng dụng phƣơng pháp dự án ở trƣờng đại học và phổ thông. Họ cho rằng cần phải thực hiện trên thực tế cách học tập mới với điểm trọng tâm là thực hiện các dự án.
Các nhà sƣ phạm nổi tiếng lúc bấy giờ: Georg Kochenteiner, Hugo Gaudig, Berthold Otto, Petersen là những nhà tiên phong về PP dự án. Tại Mỹ, dạy học dự án đã đƣợc vận dụng ở Học viện kĩ thuật Massachuset, sinh viên tại học viện phải thực hiện các công việc gắn với thực tiễn nhƣ: lập kế hoạch, nghiên cứu nhu cầu thị trƣờng, tìm hiểu điều kiện thực tế, …. để quyết định các mẫu thiết kế máy móc chất lƣợng tốt nhằm đáp ứng đƣợc yêu cầu của ngƣời tiêu dùng. Vào những năm đầu của thế kỉ 20, các nhà sƣ phạm Mỹ đã có nhiều đóng góp to lớn cho việc xây dựng cơ sở lí luận của PP dự án, John Dewey (1859 – 1952), đƣợc xem là cha đẻ của những bài học theo PP dự án.
Châm ngôn hành động của ông là “Learning by doing” - học thông qua làm thực tế, học bằng cách làm chứ không phải bằng cách lắng nghe nhƣ trong sƣ phạm truyền 6 Luan van thống, học sinh phải hành động, xây dựng các dự án, thực hiện dự án đúng kỳ hạn, rút kinh nghiệm, và học cách trình bày lại dự án. Năm 1918, nhà giáo dục Mỹ William Heard Kilpatrick (1871 – 1965), đã viết bài báo với tiêu đề “Phƣơng pháp dự án” gây tiếng vang trong các cơ sở đào tạo giáo viên và các trƣờng học.