Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm Để giải quyết được công việc hàng ngày trong cuộc sống đòi hỏi con người vận dụng những kinh nghiệm, vốn hiểu biết và kiến thức của bản thân để xử lí các vấn đề được đặt ra. Để GQVĐ đó, con người dần hình thành các kĩ năng và tích lũy kinh nghiệm cho bản thân mình. Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam - tác giả Nguyễn Lân (2000) viết: “Kĩ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn” [14, tr.TS Nguyễn Quang Huỳnh viết trong quyển “Một số vấn đề lý luận giáo dục chuyên nghiệp và đổi mới PPDH” nói về kĩ năng như sau: “Kĩ năng chính là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hoặc một chuỗi các hoạt động dựa trên cơ sở hiểu biết của mình nhằm tạo được kết quả mong đợi” [8, tr.
Quan điểm nghiên cứu kĩ năng như là trình độ thực hiện hành động, thiên về phương diện kỹ thuật của thao tác hành động, tác giả Krutetxki V. (1981) cho rằng: “Kĩ năng là phương thức thực hiện hoạt động - cái mà con người lĩnh hội được” [12, tr. Quan điểm kĩ năng là một dạng biểu hiện năng lực thực hiện hành động của cá nhân và nhấn mạnh đến kết quả của hành động, tác giả Đặng Thành Hưng (2013) đưa ra khái niệm: “Kĩ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc,khả năng vận động và những điều kiện sinh học - tâm lý khác của cá nhân như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tich cực cá nhân .để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định” [7, tr. Quan điểm xem xét kĩ năng là hành vi ứng xử, tác giả Richard J.
với định nghĩa: “Kĩ năng là hành vi thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối của cách cảm nhận và suy nghĩ của cá nhân” [27, tr. 7 Như vậy, dù xét theo quan điểm nào thì khái niệm kĩ năng cũng không hề phủ định lẫn nhau. Các tác giả tùy theo cách nhìn chủ quan của mình mà nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác nhưng đều thống nhất ở một số điểm chung đó là: - Kĩ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động. - Kĩ năng là sự vận dụng những tri thức, kỹ xảo đã có để lựa chọn thực hiện những phương thức hành động.
- Kĩ năng có thể rèn luyện để phát triển được. Tiếp thu có kế thừa những quan niệm trên, tôi cho rằng: “Kĩ năng là năng lực (khả năng) của chủ thể vận dụng hiểu biết (tri thức hoặc kinh nghiệm) trong điều kiện thực tiễn cho phép để thực hiện một cách nhuần nhuyễn một hay một chuỗi hành động nhằm tạo ra kết quả mong đợi theo mục đích đã đề ra. Kĩ năng biểu hiện trình độ các thao tác tư duy, năng lực hành động và mặt kĩ thuật của hành động”. Đặc điểm của kĩ năng Nếu tách kĩ năng và tri thức để xét riêng, theo Tâm lý học thì các kĩ năng thuộc phạm vi hành động, thuộc về khả năng “biết làm”, còn tri thức thuộc phạm vi nhận thức, thuộc về khả năng “biết”.
Những đặc điểm của kĩ năng gồm: - Kiến thức là cơ sở lí thuyết mà bất cứ kĩ năng nào cũng hình thành dựa trên đó. Bởi kĩ năng có cấu trúc là: xác định mục đích - biết con đường dẫn đến kết quả - hiểu điều kiện để triển khai con đường giải quyết đó. - Kĩ năng phải dựa trên cơ sở là kiến thức, các thuộc tính bản chất của đối tượng được kiến thức phản ánh đầy đủ, được kiểm nghiệm bằng thực tiễn và là công cụ của hành động tồn tại trong ý thức. Trong trường phổ thông, môn Toán là môn học công cụ có đặc điểm và vị trí đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ GD.
Kĩ năng chỉ có thể 8 được hình thành, rèn luyện và phát triển trên cơ sở của tri thức, trong các hoạt động của con người, vì vậy, cần hướng mạnh vào việc vận dụng những tri thức và rèn luyện các kĩ năng. Để có được kĩ năng cần: - Nắm vững kiến thức, hiểu được mục đích, biết được điều kiện, con đườn để thực hiện hành động thu được kết quả. - Với các yêu cầu đưa ra, thực hiện được hành động. - Thu được kết quả thích hợp với mục đích đưa ra.
- Trong các điều kiện khác nhau có thể hành động một cách hiệu quả. - Kĩ năng có thể được hình thành bằng cách bắt chước, rèn luyện qua một thời gian đủ dài. Tri thức bao gồm kiến thức, thông tin, sự hiểu biết, kĩ năng có được nhờ trải nghiệm, thông qua GD hay tự học hỏi. Vì thế, có thể nói tri thức về các sự vật rất phong phú và đa dạng, nó phản ánh những thuộc tính bản chất và thuộc tính khác nhau của sự vật.
Cần phải biết lựa chọn tri thức một cách đúng đắn và hợp lí, phản ánh thuộc tính bản chất, phù hợp với mục tiêu của hành động để tri thức trở thành cơ sở lựa chọn đúng đắn cho các hành động. Từ thực tiễn giảng dạy, tôi thấy trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ cụ thể nhiều HS mặc dù thuộc lí thuyết nhưng vẫn gặp khó khăn khi vận dụng những khái niệm và những tri thức vào bài tập, không biết lựa chọn lí thuyết nào vào bài toán cần giải quyết bởi các em chưa phát hiện ra những dấu hiệu bản chất của đối tượng để từ đó phát hiện ra mối liên hệ bản chất giữa tri thức đã có với đối tượng đó. Khi đó, tri thức chưa được biến thành công cụ cho hoạt động nhận thức, vì thế tri thức mà HS có được trong trường hợp này là khối kiến thức khô khan, cứng nhắc thiếu tính thực tế và không trở thành cơ sở của kĩ năng. Nguyên nhân này là do chưa hình thành được kĩ năng.
Ta xét ví dụ sau: “Tìm các số nguyên n để giá trị của biểu thức P(n) n4 5n3 3n2 17n 17 chia hết cho giá trị của biểu thức Q(n) n 5 ”. 9 Sự vật ở đây được phản ánh bởi rất nhiều tri thức: tham số, dấu hiệu chia hết, chia đa thức, tìm số dư, công thức biểu diễn mối quan hệ giữa đa thức bị chia, đa thức chia, thương, dư. Muốn giải được bài toán này chúng ta phải lựa chọn các tri thức phù hợp với mục tiêu đề ra: - Đây là kiểu bài tìm n Z để P(n) Q(n) - Quan hệ ở đây là P(n) Q(n) với n Z P(n) Q(n).B(n) R(n) - Sử dụng phương pháp nào để giải và giải như thế nào? - Muốn tìm được n Z ta cần tìm được R(n) + Nếu R(n) 0 ta có phép chia hết n Z + Nếu R(n) 0 R(n) n 5 - Vì Q(n) n 5 có bậc là 1 nên có dư là một số nguyên. - Tìm được n bằng cách cho n 5 là ước của R(n) - Cụ thể n4 5n3 3n2 17n 17 n 5 n3 3n 2 7 n 5 1; 7 , vì n 5 n 2;12;4;6 Thông qua bài toán GV giúp HS rèn luyện: - Năng lực nhận dạng bài toán thuộc kiểu nào - Phát hiện các mối quan hệ cần thiết giữa các yếu tố - Thâu tóm toàn bộ tình huống - Thủ thuật suy xét để làm cho dễ dàng: + Phương pháp giải + Tách ra và nhấn mạnh những dữ kiện và quan hệ bản chất giữa chúng + Phân tích bài toán + Dấu hiệu chia hết sử dụng trong bài toán.
Sự hình thành các kĩ năng Muốn kĩ năng được hình thành, trước tiên HS phải có cơ sở là kiến thức, sau đó tìm hiểu, luyện tập riêng rẽ từng thao tác cho đến khi thực hiện phức 10 hợp theo đúng mục đích yêu cầu của hành động. Các nhà Tâm lí học cho rằng, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng là: - Các nội dung của bài toán được tách ra một cách tường minh hay được che đậy mối quan hệ bởi các dữ liệu xuất phát, có thể làm lệch hướng tư duy. - HS chỉ nhìn thấy và phân tích những điều có sẵn trong bài toán mà chưa phát hiện ra những điều còn ẩn chứa trong đó. - Sự hình thành các kĩ năng còn chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi khả năng khái quát, mở rộng, tâm lí và thói quen tâm lí.
Nếu HS gặp áp lực, mệt mỏi, chán nản thì sẽ cản trở việc học tập; ngược lại nếu HS hăng say, hứng thú sẽ giúp các em dễ dàng hình thành kĩ năng. Ở mỗi con người, kĩ năng đều được hình thành trong một thời gian nhất định bằng con đường luyện tập để giải quyết các nhiệm vu đặt ra thông qua qua trình tư duy trên các sự vật để từ đó phân tích đối tượng, tách ra các khía cạnh và những thuộc tính mới, tạo khả năng cho con người thực hiện một cách linh hoạt các hoạt động không chỉ khi gặp các điều kiện quen thuộc mà cả khi gặp những điều kiện thay đổi. Quá trình tư duy này được chủ thể ghi lại tri thức của chủ thể và biểu hiện ra ngoài bằng ngôn ngữ. Platônôv thì sự hình thành kĩ năng diễn ra theo 5 giai đoạn và theo ông đây cũng chính là 5 mức độ hình thành kĩ năng [29]: giai đoạn có kĩ năng sơ đẳng; giai đoạn biết cách làm nhưng không đầy đủ; giai đoạn có những kĩ năng chung mang tính chất riêng lẻ; giai đoạn có kĩ năng phát triển cao; giai đoạn có tay nghề.
Thực chất của sự hình thành các kĩ năng là tạo cho HS biết biến đổi và sáng tạo các thông tin chứa đựng trong các tri thức và tiếp thu được từ các đối tượng thông qua việc HS có khả năng nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác.