CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về tư duy 1. Khái niệm tư duy Thế giới hiện thực có rất nhiều điều mà con người chưa tìm hiểu được, chưa nhận thức được. Và nhiệm vụ của cuộc sống đòi hỏi con người phải hiểu thấu những điều chưa biết đó, phải tìm ra được những bản chất và những quy luật tác động qua lại giữa chúng.
Quá trình tìm tòi, nhận thức đó gọi là tư duy (TD). Theo tâm lý học, tư duy là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao – bộ não người. Tư duy phản ánh thế giới vật chất dưới dạng các hình ảnh lý tưởng: “Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết”. Quá trình phản ánh này là quá trình gián tiếp, độc lập và mang tính khái quát, được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự nhận thức cảm tính nhưng vượt xa các giới hạn của nhận thức cảm tính.
Dưới góc độ giáo dục, có thể hiểu tư duy là hệ thống gồm nhiều ý tưởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện. Nó dùng suy nghĩ hay tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó. Theo Art Costa, tác giả của một trong nhiều cuốn sách về tư duy cho rằng: “Tư duy là sự cảm nhận của chúng ta khi chúng ta nhận được những dữ kiện, những thông tin diễn ra trong các mối quan hệ”. Nói một cách ngắn gọn là: “Chúng ta suy nghĩ” Tác giả M.
Sacđacôp cho rằng: “Tư duy là sự nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu những thuộc tính chung và bản chất của chúng, trong những mối liên hệ và quan hệ của chúng; tư duy cũng là sự nhận thức và xây dựng sáng tạo những sự vật hiện tượng mới, riêng lẻ của hiện thực trên cơ sở những tri thức khái quát đã thu nhận được”. Tác giả đã nhấn mạnh nội dung của tư duy chính là những tri thức về bản chất của sự vật được khái quát hóa và kết tinh trong khái niệm. BruSlinSki cho rằng: “Tư duy là quá trình tâm lý của sự độc lập, tìm tòi và phát hiện cái mới cơ bản, tức là quá trình phản ánh một cách gián tiếp khái quát thực tại khách quan trong các bước phân tích, tổng hợp nó, quá trình này xuất hiện trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự nhận thức cảm tính và vượt xa so với giới hạn của nhận thức cảm tính”. Larudnaia định nghĩa về tư duy như sau: “Tư duy chính là quá trình phản ánh gián tiếp và khái quát hiện thực, là một loại hoạt động trí tuệ đi sâu vào nhận thức bản chất của sự vật, hiện tượng như mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật giữa chúng”.
Tác giả cũng nhận định rằng: Tư duy chính là kết quả của hoạt động phân tích, tổng hợp của bộ não. Các định nghĩa khác nhau về tư duy dù không đồng nhất nhưng không phủ nhận lẫn nhau. Mỗi định nghĩa này đều xuất phát từ một vài dấu hiệu quan trọng của tư duy như: đặc điểm tư duy, thao tác tư duy, sản phẩm của tư duy. Các khái niệm này đều có những điểm cốt lõi chính sau: - Tư duy là một hoạt động nhận thức, giống các hoạt động nhận thức khác như cảm giác, tri giác, …nhằm khám phá thế giới.
- Đối tượng của tư duy không phải là các vật liệu cụ thể như cảm giác, tri giác mà tư duy phản ánh nét chung của các hình ảnh cụ thể có được do cảm giác, tri giác mang lại, sau đó, khái quát hóa đưa về các dấu hiệu chung hay bản chất của sự vật hiện tượng. - Kết quả của tư duy là giải quyết một nhiệm vụ, một tình huống có vấn đề nhất định. Từ những những vấn đề cốt lõi trong khái niệm tư duy đã xác định ở trên, trong luận văn đồng nhất khái niệm TD của Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành: “Tư duy là một hoạt động nhận thức, phản ánh những dấu hiệu chung, khái quát, những mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật bản chất của các sự vật hiện tượng”. Các thao tác tư duy Theo nhà tâm lí học J.Piaget, thao tác được định nghĩa như sau: “Thao tác chính là hành động được nội hiện (chuyển vào trong) và được rút gọn ở trong đó.” Theo từ điển Tiếng Việt thì thao tác được định nghĩa là: “Thực hiện những động tác kĩ thuật để hoàn thành một công việc gì đó” Qua các định nghĩa trên, có thể đưa ra những đặc điểm sau về thao tác : Thứ nhất, thao tác là một hành động có nguồn gốc là hành động vật chất từ bên ngoài - hành động vật chất bên ngoài là yếu tố tiên quyết để có thể hình thành thao tác.
Hành động diễn ra ngay trên đồ vật thật, một cách trực tiếp, hành động thực sự bao giờ cũng xảy ra một lần duy nhất và trôi vào quá khứ, còn thao tác là quá trình xảy ra trong đầu. Chẳng hạn: Trẻ có thao tác đếm thì trước đó nó đã được người lớn cho đếm đồ vật trong nhà, đếm số người hay đếm nhân vật trong truyện. Thứ hai, thao tác là hành động chuyển từ bên ngoài vào bên trong và được nội hiện, được rút gọn. Thứ ba, quá trình chuyển vào trong xảy ra hai quá trình.
- Quá trình kết hợp giữa các hành động với các yếu tố chủ quan của chủ thể - Quá trình rút gọn: Hành động khi ở bên ngoài diễn ra theo một tiến trình cơ học có thể nhìn thấy. Như vậy, một thao tác bao giờ cũng có tính thuận và nghịch mà hành động không có. Qua những phân tích trên, thao tác tư duy có thể được hiểu như sau: Thao tác tư duy là hành động tinh thần có nguồn gốc từ hành động nhận thức bên ngoài, được chuyển vào trong đầu, được rút gọn và có tính chất đảo ngược, bảo toàn. Đối tượng của thao tác TD chính là những hình ảnh, biểu tượng, kí hiệu.
Theo các kết quả nghiên cứu trong tâm lý học, các thao tác TD chủ yếu gồm: 10 Thao tác phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần khác nhau từ đó phát hiện ra những thuộc tính, đặc điểm đặc trưng của một sự vật, hiện tượng. Thao tác phân tích sử dụng cách so sánh, phân loại hay đối chiếu để làm cho sự vật hiện tượng được tường minh. Ví dụ : Giải phương trình 2x + 3 = 0 Để giải được bài toán đã cho trên, HS cần thực hiện thao tác phân tích thông qua việc trả lời câu hỏi sau: ?Nhận biết đây là dạng PT nào? Đó là PT bậc nhất một ẩn. ?Muốn tìm được nghiệm của PT trên, HS cần thực hiện các quy tắc nào? Chuyển vế và nhân 2 vế của PT với cùng một số khác 0.
Thao tác tổng hợp: là quá trình hợp nhất, sắp xếp hay kết hợp những bộ phận, những thành phần, những thuộc tính của đối tượng nhận thức đã được tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể. Kết quả tổng hợp giúp con người nhận thức đối tượng một cách bao quát, toàn diện hơn. Ví dụ : Thông qua các ví dụ về giải PT bậc nhất một ẩn ax + b = 0 (a ≠ 0), HS có thể tự tổng hợp được cách giải và nghiệm tổng quát của các PT bậc nhất một ẩn đều có dạng −b. x= a Thao tác so sánh - tương tự: là quá trình xác định sự giống nhau và khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa các sự vật, hiện tượng của hiện thực”.
Kết quả của việc so sánh là tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật. Ví dụ: Từ cách giải phương trình đưa được về dạng ax + b = 0, GV có thể hướng dẫn HS tìm hiểu, nghiên cứu sự tương tự giữa cách giải bất phương trình một ẩn cùng dạng. Thao tác trừu tượng hóa: trừu tượng hóa là quá trình gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, và chỉ giữ lại những yếu tố đặc trưng, bản chất của đối tượng nhận thức. 11 Ví dụ: Khi xây dựng khái niệm “Hai PT tương đương”, sách Giáo khoa Toán 8 – Tập 2, NXB Giáo Dục có đưa ra ví dụ: PT: x = -1 có tập nghiệm S = {-1} và PT: x + 1 = 0 có tập nghiệm S = {-1} nên hai PT trên là hai PT tươnng đương.
HS sẽ phát hiện ra yếu tố đặc trưng, bản chất của hai PT tương đương là gì? Là hai PT có cùng tập nghiệm. Thao tác khái quát hóa: là quá trình hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tượng. Kết quả của khái quát hóa là một hệ thống đặc tính chung của các đối tượng cùng loại hay tạo ra các nhận thức mới dưới dạng khái niệm, nhận xét, quy tắc hay định luật. Ví dụ như việc khái quát các bước giải một bài toán bằng cách lập PT trong chương 3 – sách Giáo Khoa Toán 8 – Tập 2 , NXB Giáo Dục.
Tóm lại, các thao tác TD cơ bản được xem như quy luật bên trong của mỗi hành động TD. Trong thực tế khi giải quyết vấn đề, các thao tác TD này kết hợp với nhau, không theo trình tự máy móc. Và không phải tất cả hành động TD cũng phải thực hiện tất cả các thao tác trên mà tùy theo từng nhiệm vụ, điều kiện TD. Các loại hình tư duy a.
Nếu căn cứ vào lịch sử hình thành và mức độ phát triển của tư duy thì có các loại tư duy sau: - Tư duy trực quan hành động: là loại tư duy xuất hiện sớm nhất, khi việc giải quyết các nhiệm vụ được thực hiện nhờ sự cải tổ thực tế các tình huống và nhờ các hành động vận động có thể quan sát được. Ví dụ, trẻ em thực hiện phép cộng bằng các que tính Trong quá trình phát triển lịch sử, con người trước tiên giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, trước mắt, sau đó mới hình thành lí luận và hoạt động lí thuyết. Chẳng hạn, tổ tiên chúng ta từ việc đo đạc trong xây dựng bằng thực hành dần dần hình thành bộ môn hình học.