phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng HSHT vào dạy học đọc hiểu truyện lịch sử. Ở chƣơng này, chúng tôi nghiên cứu các cơ sở lí luận của HSHT, dạy học đọc hiểu truyện lịch sử; khảo sát việc dạy học đọc hiểu truyện lịch sử trong SGK lớp 8, tập trung vào bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. Đồng thời chúng tôi cũng khảo sát thực trạng xây dựng và sử dụng HSHT trong dạy học truyện lịch sử ở lớp 8 tại một số trƣờng THCS.
Nội dung này là cơ sở quan trọng để triển khai các biện pháp thiết kế và sử dụng HSHT trong dạy học truyện lịch sử. Biện pháp thiết kế và sử dụng HSHT trong dạy học truyện lịch sử ở Ngữ văn 8, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. Từ những cơ sở khoa học đã có ở chƣơng 1, chúng tôi đề xuất biện pháp thiết kế và sử dụng HSHT trong dạy học đọc hiểu truyện lịch sử ở lớp 8. Các yêu cầu, các bƣớc khi xây dựng HSHT và yêu cầu, quy trình khi sử dụng HSHT trong dạy học đọc hiểu truyện lịch sử lớp 8 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống một cách cụ thể.
Thực nghiệm sƣ phạm. Trong chƣơng 3, chúng tôi sẽ trình bày quá trình thực nghiệm sƣ phạm và kết quả thực nghiệm. Qua đó, chúng tôi đƣa ra kết luận và tính khả thi của các biện pháp xây dựng và sử dụng HSHT trong dạy học đọc hiểu truyện lịch sử ở lớp 8. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG, SỬ DỤNG HỒ SƠ HỌC TẬP VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN LỊCH SỬ 1.
Hồ sơ học tập trong dạy học 1. Quan niệm về hồ sơ học tập Theo cách dịch của các nhà nghiên cứu giáo dục, hồ sơ học tập đƣợc dịch là portfolio. Từ này có gốc từ tiếng Ý, trong đó Portare nghĩa là cầm, mang ; còn Foglio nghĩa là trang sách, báo, tờ/ tấm. Gắn kết nghĩa lại portfolio đƣợc hiểu là một tập hồ sơ bao gồm nhiều thông tin, có thể kèm theo hình ảnh.
Từ portfolio đƣợc hiểu theo nhiều cách và nó còn đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành nghề và hoạt động trong cuộc sống nhƣ thƣơng mại, du lịch, nghệ thuật… Bên cạnh đó, Từ điển Cambridge định nghĩa portfolio là “a collection of drawings, designs, or other papers that represent a person’s work” nghĩa là “Một bộ tài liệu bao gồm các bản vẽ, bản thiết kế hoặc những tài liệu khác, nó thể hiện công việc của một người” ; hoặc là “Portfolio is a collection of your work which shows how your skills and ideas have developed over a period of time. It demonstrates your creativity, personality, abilities and commitment ; and helps us tho evaluate you potential” [46] tạm dịch “Portfolio là một bộ sưu tập của một cá nhân, chúng cho thấy các kĩ năng và ý tưởng phát triển của người đó trong một khoảng thời gian. Nó thể hiện sự sáng tạo, cá tính, khả năng và sự cam kết, giúp đánh giá năng lực của cá nhân đó” [48]. Vậy chúng ta có thể thấy, portfolio đƣợc phát triển thành một phƣơng tiện để lƣu trữ tƣ liệu cá nhân.
Về lĩnh vực giáo dục, portfolio đƣợc hiểu là HSHT – công cụ và phƣơng tiện để dạy học rất hữu ích. Các nhà nghiên cứu giáo dục ở Tây Bắc Thái Bình Dƣơng thuộc Hiệp hội Northwest Evaluation Association (1990) đã phát triển định nghĩa về 11 HSHT nhƣ sau : “HSHT là một bộ sƣu tập có mục đích của ngƣời đọc nhằm triển lãm sự nỗ lực, tiến bộ và thành tựu trong một hoặc nhiều lĩnh vực của họ. HSHT phải đƣợc sự tham gia của ngƣời học trong việc chọn lựa nội dung, tiêu chí lựa chọn, khen thƣởng và bằng chứng tự nhận xét của HS”. [10, tr13] Năm 1991, Olson nhận định rằng “HSHT ban đầu đƣợc xác định là một tập hợp những giấy tờ rơi hoặc bản in để cầm tay, đồng nghĩa là để thực hiện và HSHT liên quan đến các trang hoặc tờ giấy.
Ngày nay, HSHT đề cập đến một bộ sƣu tập lớn dữ liệu, chẳng hạn nhƣ văn bản, hình ảnh, giấy tờ, sản phẩm học tập, âm thanh hoặc băng hình” [38, Tr.73] Theo Paulson, Meyer (1991) định nghĩa về HSHT “là một bộ sƣu tập các sản phẩm thể hiện những nỗ lực, sự tiến bộ và những thành tích của một HS trong một hoặc vài lĩnh vực. Một HSHT phải có sự tham gia của HS trong việc lựa chọn nội dung, tiêu chí đánh giá và các bằng chứng (sản phẩm) học tập” [39]. (1998) cho rằng : “HSHT tập hợp những nội dung làm chứng cứ cho thấy sự tiến bộ về trình độ và phát triển của trẻ theo thời gian”. [43] Ngoài ra, HSHT còn đƣợc các tác giả đề xuất thực hiện trên phần mềm điện tử nên còn đƣợc gọi là hồ sơ điện tử.
Hiện nay cũng có nhiều quan niệm định nghĩa về hồ sơ điện tử. Theo tác giả Helen Barrett (2000) cho rằng “Hồ sơ điện tử sử dụng công nghệ điện tử, cho phép những ngƣời xây dựng hồ sơ thu thập và tổ chức các sản phẩm dƣới dạng nhiều loại phƣơng tiện truyền thông (âm thanh, video, đồ họa). Một hồ sơ điện tử theo tiêu chuẩn dựa trên 12 một cơ sở dữ liệu hoặc liên kết siêu văn bản thể hiện rõ ràng mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và mục tiêu, giữa sản phẩm và sự nhận xét”. [35] hay nhƣ Butler (2006) cho rằng hồ sơ điện tử thể hiện rõ kĩ năng và sự phản hồi thông tin nhanh chóng, có những đánh giá xác thực và tính linh động.
Ở Việt Nam những năm gần đây, HSHT đã đƣợc một số nhà nghiên cứu định nghĩa, nghiên cứu và ứng dụng nhằm hỗ trợ và thúc đẩy sự chủ động trong việc dạy và học. Tác giả Nguyễn Lăng Bình (2017) định nghĩa “HSHT là tài liệu và là công cụ minh chứng cho sự tiến bộ trong học tập của HS, cho phép các em đƣợc tự đánh giá bản thân, thể hiện những thế mạnh, điểm yếu, sở thích, tƣ duy của mình, tự đánh giá, đối chiếu kết quả học tập với những mục tiêu học tập đã đặt ra để thấy những ƣu điểm và hạn chế, từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục”. [2] Nhóm tác giả Nguyễn Văn Hiền và Phạm Viết Quỳnh đề xuất khái niệm là : “tập hợp những thông tin về ngƣời học : thông tin về nhân thân, kiến thức, hứng thú, phong cách học tập, đa trí tuệ, thành tích học tập, sản phẩm học tập, quá trình học tập… ; là căn cứ giúp ngƣời dạy thiết kế các hoạt động học tập phù hợp, đồng thời giúp ngƣời học và giảng viên đánh giá sự phát triển và tiến bộ của ngƣời học”. 48] Theo quan niệm tác giả Phan Thị Hồng Xuân về HSHT : “HSHT là một bộ sƣu tập có mục đích và có hệ thống các sản phẩm học tập của HS, những kết quả HS đạt đƣợc trong một hoặc một số lĩnh vực nhất định ; phản ánh quá trình tiếp thu kiến thức, hình thành phẩm chất và năng lực của ngƣời học trong một khoảng thời gian nhất định.
Bộ sƣu tập phải bao gồm sự tham gia của HS trong quá trình lựa chọn nội dung, các tiêu chuẩn để lựa chọn, các tiêu chuẩn đánh giá và bằng chứng về sự tự phản ánh của HS. HSHT là một phƣơng tiện dạy học và là công cụ đánh giá, kiểm tra”. [31] Về hồ sơ điện tử, ở nƣớc ta cũng có một số nghiên cứu và quan niệm của các tác giả đề xuất. Theo tác giả Phạm Đức Tài, hồ sơ điện tử đƣợc giới 13 thiệu nhƣ “Một bộ sƣu tập thông tin có chọn lọc và có cấu trúc ; Sử dụng cho các mục đích cụ thể, hiển thị hoặc chứng minh thành tựu và phát triển ; Đƣợc lƣu trữ dƣới dạng kĩ thuật số ; đƣợc quản lí bằng phần mềm thích hợp và lƣu trữ lâu dài ; đƣợc phát triển bằng cách sử dụng đa phƣơng tiện phù hợp và thông thƣờng trong môi trƣờng một trang web ; lấy từ một trang web, hoặc đƣợc phân phối bằng CD – ROOm hoặc DVD ; dễ dàng mang theo, chia sẻ và nhập vào hệ thống hoặc môi trƣờng mới”.
[22] Nhóm tác giả Đặng Thị Thu Hƣơng, Phan Thanh Hải giải thích “Hồ sơ điện tử sử dụng công nghệ điện tử, cho phép ngƣời dùng sử dụng hồ sơ thu thập và tổ chức các sản phẩm dƣới dạng nhiều loại phƣơng tiện truyền thông nhƣ âm thanh, video, đồ họa, văn bản”. [14] Dựa trên các quan niệm trên về HSHT, qua sự tìm hiểu, tự nghiên cứu và kế thừa, chúng tôi xin đƣa ra khái niệm về HSHT nhƣ sau : HSHT là một bộ sƣu tập có mục đích và hệ thống các sản phẩm của học sinh, phản ánh quá trình tiếp thu kiến thức, kĩ năng, đồng thời thể hiện phẩm chất, năng lực, thái độ của học sinh trong một khoảng thời gian nhất định. HSHT là một phƣơng tiện dạy học, công cụ kiểm tra đánh giá các kiến thức, kĩ năng và phẩm chất, năng lực của HS. Phân loại hồ sơ học tập Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại HSHT.
Tùy vào mục đích khác nhau sẽ có các cách phân loại khác nhau. Nhà nghiên cứu Haladyn (1997) phân loại HSHT thành 5 loại : lý tƣởng, giới thiệu, tài liệu, đánh giá và HSHT lớp học. Trong đó, HSHT lý tƣởng bao gồm các sản phẩm của ngƣời học ; HSHT giới thiệu sẽ đƣa ra các sản phẩm tốt nhất của ngƣời học ; HSHT tài liệu sẽ là các tài liệu liên quan thể hiện các công việc và kết quả học tập của HS ; HSHT đánh giá là tập hợp các công việc của học sinh theo tiêu chí đƣợc xác định trƣớc bởi GV và HS nhằm phân loại đƣợc trình độ. Cuối cùng là HSHT lớp học sẽ 14 chứa hồ sơ của mỗi HS trong lớp, giúp GV quan sát và nhận xét về từng HS trong lớp của mình.
Các tác giả Rolheiser, Bower, Stevahn (2000) chia thành 2 loại : “Hồ sơ trƣng bày (best work portfolio) và hồ sơ cải tiến (growth portfolio). Trong đó, hồ sơ trƣng bày đƣợc dùng để trình bày những thành tích và sản phẩm tốt nhất của HS và hồ sơ cải tiến tập trung vào sự phát triển và trƣởng thành của HS qua thời gian, bao gồm cả bằng chứng về những khó khăn, thất bại, cả thành công và sự thay đổi từng ngày”. [41] Tác giả John Mueller phân loại HSHT thành 3 loại : HSHT phát triển, giới thiệu và HSHT đánh giá.