CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề lí luận về HS yếu kém Toán 1. Quan niệm về HS yếu kém Toán Thực tế cho chúng ta thấy, trong cùng một lứa HS cùng độ tuổi, cùng sinh ra và lớn lên trong một cộng đồng, cùng hưởng một nền giáo dục như nhau nhưng khả năng nhận thức, tâm lý, tình cảm, khát vọng HT của mỗi em là khác nhau. Bên cạnh những em HS khá giỏi luôn có những em HS yếu kém, đây cũng là đối tượng mà các nhà giáo dục rất quan tâm.
Vấn đề HS yếu kém trong HT được khá nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Thuật ngữ HS yếu kém trong HT thường được hiểu là nhắc tới những HS gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết các nhiệm vụ HT thông thường so với những bạn cùng trang lứa, những em được xem là đang không theo kịp các bạn trong việc học ở trường [9]. Có những tác giả dùng khái niệm HS yếu kém trong HT nhằm chỉ những HS có khả năng lĩnh hội kiến thức hạn chế hoặc chậm phát triển về mặt giáo dục hoặc HS yếu kém trong HT được nhắc đến những HS không thông minh, chậm hoặc ít có khả năng HT như các bạn đồng trang lứa. Có nhiều nghiên cứu về quá trình học của HS yếu kém trong HT, cách học, hoạt động HT, những đặc trưng cơ bản về tâm lí,… của HS yếu kém trong HT.
Khảo cứu từ một số công trình [3], [10], [12], [23], [25], [34], [35], [36], [37],. Kalmưôva (1968) trong khi nghiên cứu những trẻ em có thành tích HT bị giảm sút đã đưa ra các nghiên cứu về những biến thức đa dạng , cá biệt của sự phát triển ở những mức độ khác nhau trong hoạt động nhận thức. Theo bà, "ở HS có sức học yếu kém hoặc thiếu khả năng HT thì vốn kiến thức thường nghèo nàn và có thể không hình thành được phẩm chất trí tuệ như những bạn đồng trang lứa" (dẫn theo [23]). Mentsinxkaia và các cộng tác viên đã phân tích kết quả lĩnh hội khái niệm ở hàng loạt các môn khoa học và thấy rằng "HS yếu kém trong HT nắm khái niệm còn hời hợt, nặng về những nội dung nổi bật có tính chất 8 chủ quan, một số khái niệm bị thu hẹp hoặc quá mở rộng" (dẫn theo [23]).
Sri Ra Rajeswari, P. Badarinath, cũng bàn về những dấu hiệu để xác định, chỉ ra HS yếu kém trong HT đối với môn văn hóa thông qua quan sát trong lớp học thì "HS yếu kém trong HT thường có khả năng diễn đạt kém, thụ động trong giờ học" [36]. Năm1996, Quah May Ling (Singapo) cũng chỉ ra những đặc trưng trong quá trình học của HS yếu kém trong HT như: "chậm nhận thức và phản ứng với môi trường HT, ít tham gia, không hứng thú với các hoạt động HT; phụ thuộc nhiều vào GV", …Tiếp đó, Quah May Ling còn chỉ ra các đặc điểm khác có thể quan sát được của HS yếu kém trong HT, "thiên về các biểu hiện tâm lí và sinh lí: thể chất chậm phát triển, thiếu tự tin so với các bạn khác trong lớp, không tập trung,…. Sri Ra Rajeswari,P.
Một số nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng HS yếu kém trong HT là HS có chỉ số IQ thấp, kém thông minh. Tuy nhiên sau này và phổ biến nhiều tác gỉa cho rằng HS yếu kém trong HT là HS không thể hiện được bất cứ mặt tích cực nào trong các hoạt động HT, học chậm. Theo nhà nghiên cứu Rashmi Rekha Borah (Ấn Độ, 2013) [37], "HS có trình độ nhận thức thấp hơn so với các bạn cùng lứa tuổi, không thể nói là khuyết tật, mà gọi là những người học chậm, hay hiểu ở đây là HS yếu kém trong HT. Họ luôn cố gắng để đối phó với nhu cầu HT bình thường của lớp học thông thường.
Trên thực tế, những HS này là những HS bình thường nhưng vấn đề là họ không quan tâm, không thấy hứng thú đến việc học theo hệ thống giáo dục truyền thống". Theo tác giả Sangeeta Chauhan (2011, Ấn Độ) cho rằng "HS yếu kém trong HT thường có những đặc điểm sau: khả năng biểu đạt ngôn ngữ kém so với các bạn; khả năng nhận thức có giới hạn; trí nhớ hạn chế; thiếu tập trung". Theo quan điểm của Rashmi Rekha Borah, "những đứa trẻ này không thuộc phạm trù giáo dục đặc biệt, ở ngoài lớp học thì rất tốt và 9 không có bằng chứng về vấn đề y tế. Họ chỉ đơn giản không làm tốt trong trường học hoặc một chủ đề cụ thể của một môn học, một số môn học nào đó" [35].
Bên cạnh những nghiên cứu về HS yếu kém trong HT nói chung, các tác giả cũng có các nghiên cứu về HS yếu kém trong học các môn học khác như là Toán, Lí, Hóa… Điều này sẽ liên quan nhiều đến đặc thù của từng bộ môn và đặc điểm cá nhân từng HS. Slack và Mark A. Các nhà nghiên cứu, tâm lý học và các nhà giáo dục học đã tìm hiểu rất nhiều về đặc điểm của HS yếu kém trong HT trong học môn Toán. Mercel (2003) cho biết các đặc điểm của HS yếu kém môn Toán trong một nghiên cứu tiến hành tại Hoa Kỳ là "những HS có khả năng nắm bắt kiến thức chậm so với các bạn cùng trang lứa, khả năng diễn đạt kiến thức toán học kém, không có động cơ HT môn toán, dễ bị ảnh hưởng tiêu cực của môi trường xung quanh, điểm kiểm tra môn toán luôn thấp; tuy nhiên, HS yếu kém môn Toán có thể làm tốt các bài toán được lặp đi lặp lại nhiều lần, giải quyết các bài toán được chia nhỏ thành nhiều bước" (dẫn theo [36]),… Năm 2013, Rashmi Rekha Borah có bàn về HS yếu kém môn Toán và cho rằng," những HS yếu kém môn Toán thường im lặng và nhút nhát, gặp rắc rối với tư duy trừu tượng hoặc giải quyết các vấn đề trong môn Toán; có một khoảng chú ý ngắn.
Tất cả những vấn đề này làm cho họ có một lòng tự tin thấp" [37]. Nguyên nhân của tình trạng HS yếu kém Toán 1. Nguyên nhân từ phía GV Một cách khách quan có thể nhận định rằng, trong các nguyên nhân dẫn đến thực tế ở hầu hết các lớp học, các bậc học đều tồn tại một bộ phận HS yếu kém trong HT không thể không có nguyên nhân từ chính các GV trực tiếp giảng dạy. Một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng GV không đồng đều là khâu đào tạo GV ở các trường sư phạm.
Theo Đức Hoà (Báo Dân trí, Thứ Ba, ngày 10 07/11/2006), khi đọc báo cáo trước Quốc hội về đội ngũ nhà giáo trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề, Bộ trưởng Giáo dục nêu ý kiến “yếu kém lớn nhất của giáo viên phổ thông hiện nay vẫn là phương pháp dạy học, chưa đảm bảo yêu cầu học đi đôi với hành. Phương pháp dạy còn nặng về truyền đạt kiến thức .” và chỉ ra những hạn chế của việc đào tạo GV; đề xuất một số biện pháp khắc phục tình trạng này. Các nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài chỉ ra rằng, với cùng một nội dung kiến thức cần truyền đạt nhưng mỗi GV có cách thức truyền đạt khác nhau, mỗi GV có năng lực sư phạm khác nhau, có GV có cách nói làm HS dễ nhận ra vấn đề, ngược lại cũng nội dung đó nhưng có GV làm cho HS rất khó hiểu. Có những GV biết khai thác công nghệ thông tin, biết sử dụng các phần mền hỗ trợ trong việc dạy Toán và vận dụng tốt vào từng tiết học, từng bài học một cách hợp lí, hiệu quả giúp HS dễ hiểu bài, nắm bắt được kiến thức.
Ngược lại có những GV khi lên lớp chỉ có bảng và phấn, không sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ DH, không sử dụng đồ dùng DH làm hạn chế nhận thức của HS, vô hình chung làm cho HS khó hiểu, khó nắm bắt được chuẩn kiến thức kĩ năng. Việc không nắm vững kiến thức, hời hợt trong giảng dạy, thiếu quan tâm đến từng đối tượng HS trong một lớp học, không tâm huyết với nghề, hạn chế phương pháp và kĩ thuật DH cũng là nguyên nhân dẫn đến việc HS không hứng thú HT, lâu dần tạo thành HS yếu kém trong HT. Nguyên nhân từ phía HS Qua thực tế làm công tác giảng dạy bộ môn Toán tại trường THCS và làm công tác chủ nhiệm lớp, bằng các PP quan sát, phỏng vấn, theo dõi quá trình HT của HS,. chúng tôi thấy có nhiều nguyên nhân về phía HS dẫn tới tình trạng HT yếu kém.
Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến đó là các em mất tập trung trong HT và lười học. Từ việc các em mất tập trung trong HT dẫn đến việc các em chỉ hiểu một phần bài học thậm chí không hiểu cả bài học, cộng với việc các em lười tự học ở 11 nhà dần các em sẽ bị hổng kiến thức, không theo kịp chương trình và trở thành HS yếu kém trong HT. Trong thời buổi công nghệ hiện nay cộng với sự phát triển kinh tế xã hội, ngoài bài vở trên lớp các em HS còn được tiếp cận với rất nhiều trò chơi công nghệ, game, facebook, zalo, điện thoại, máy tính bảng,. những loại hình này rất cuốn hút và hấp dẫn các em.
Một bộ phận HS không phải do trí tuệ của các em kém mà do các em nghiện Game, facebook, mạng ảo. dẫn tới việc các em lơ là HT và dần trở thành HS yếu kém trong HT Trong thực tế giảng dạy, tác giả đã nhiều lần trò chuyện, chia sẻ với các HS yếu kém trong HT ở các khối lớp khác nhau, qua tâm sự của các em thì có nhiều em không chỉ ra được nguyên nhân mình học sa sút mà chỉ thấy rằng mình không thấy hứng thú trong HT, không tìm thấy niềm vui qua các bài toán, các nhiệm vụ HT, không có động lực vươn lên trong HT. HS chưa có phương pháp học, trong quá trình HT trên lớp, một số em ghi chép bài chậm, thậm chí không ghi bài, các em giữ gìn vở ghi rất cẩu thả, thay vì ghi bài và nghe giảng các em hay vẽ bậy linh tinh, các em thường không làm bài tập và học bài ở nhà. Tư duy thiếu linh hoạt.
Nghe GV phân tích giảng giải, HS yếu không biết khái quát, không biết tư duy nên không nhớ trình tự tính toán, giải toán. Sự chú ý, trí tưởng tượng, óc quan sát đều phát triển chậm. Khả năng sử dụng ngôn ngữ toán học lúng túng, diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, nhiều chỗ lẫn lộn.