Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI HỆ THỐNG BÀI TẬP 1. Lý thuyết về bài tập Theo nghĩa chung nhất, thuật ngữ “bài tập” dùng để chỉ một hoạt động nhằm rèn luyện thể chất và tinh thần. Trong giáo dục, theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên (HN 1994), thuật ngữ “Bài tập có nghĩa là “bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học. Thí dụ: bài tập đại số, bài tập ở lớp,.
Những định nghĩa trên mới giải thích về mặt ngữ nghĩa chứ chưa làm rõ bản chất của khái niệm “bài tập”. Qua nghiên cứu, trong luận văn này, chúng tôi tiếp thu quan niệm của nhà nghiên cứu Thái Duy Tuyên: “bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với nhau: Những điều kiện, tức là tập hợp những dữ liệu xuất phát, diễn tả trạng thái ban đầu của bài tập, từ đó tìm ra phép giải, theo ngôn ngữ thông dụng thì đó là “cái cho”, trong toán học thì gọi là “giả thiết”. Những yêu cầu là trạng thái mong muốn đạt tới, theo ngôn ngữ thông dụng thì đây là “cái phải tìm”. Hai tập hợp này tạo thành bài tập, nhưng chúng lại không phù hợp với nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau, từ đó xuất hiện nhu cầu phải biến đổi chúng để khắc phục sự không phù hợp hay mâu thuẫn giữa chúng Tóm lại có thể hiểu bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học , đòi hỏi người học phải có một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đưa ra.
13 Bài tập có mối quan hệ mật thiết với câu hỏi. Câu hỏi là thuật ngữ dùng để chỉ việc nêu vấn đề trong nói hoặc viết, đòi hỏi phải có cách giải quyết. Câu hỏi được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong dạy học. Trong dạy học, câu hỏi mà giáo viên đưa ra là vấn đề mà giáo viên đã biết, học sinh đã học hoặc dựa trên cơ sở những kiến thức đã học mà trả lời một cách thông minh sáng tạo.
Vì vậy câu hỏi trong dạy học thường mang yếu tố khám phá hoặc khám phá lại dưới dạng một thông tin khác bằng cách cho học sinh tìm ra các mối quan hệ, các quy tắc, các con đường tạo ra cách giải quyết mới. Về mặt chức năng dạy học, câu hỏi và bài tập đều là một nhiệm vụ đặt ra cho HS, là phương tiện để GV tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra kết quả nhận thức rèn luyện kĩ năng kĩ xảo cho học sinh. Về mặt hình thức, câu hỏi chỉ nêu yêu cầu mà học sinh cần trả lời, còn trong bài tập vừa có dữ liệu (điều kiện) vừa có yêu cầu để giải quyết bài tập. HS phải căn cứ vào dữ liệu đã cho để tìm ra yêu cầu xác đáng.
Môn học nào cũng vậy, để cụ thể hóa lí thuyết thì phải có thực hành. Đúng như cha ông ta từ thời xa xưa đã có câu “học đi đôi với hành”, điều đó quả không sai. Trong quá trình dạy học bài tập giúp học sinh nắm kiến thức sâu sắc và bền vững hơn; có tác dụng rèn luyện, hình thành và phát triển kĩ năng kĩ xảo cho các em; đây là phương tiện giáo dục tốt, có khả năng phát triển trí tuệ, tình cảm cho học sinh. Nếu chỉ có diễn xuông phần lí thuyết thì GV không thể nào giúp cho HS hiểu được bản chất của vấn đề cần truyền tải.
Trên thực tế chúng ta cũng nhận thấy rõ ràng là tất cả các môn học người GV đều phải cụ thể hóa phần lí thuyết mình dạy bằng bài tập hay một vài ví dụ cụ thể. VD: Dạy bài: Trợ từ, thán từ Để hình thành khái niệm về trợ từ, SGK đã trình bày và hướng dẫn học sinh thực hiện các bài tập: (1) Nghĩa của các câu dưới đay có gì khác nhau? Vì sao có sự khác nhau đó? - Nó ăn hai bát cơm. (2) Các từ những và có trong các câu ở mục (1) đi kèm từ ngữ nào trong câu và biểu thị thái độ gì của người nói đối với sự việc? Tiếp theo là bài tập nhằm củng cố, khắc sâu và rèn luyện kĩ năng sử dụng trợ từ của hoạt động giao tiếp: (3) Trong các câu sau đây, từ nào trong (các từ in đậm) là trợ từ, từ nào không phải trợ từ? a) Chính thầy hiệu trưởng đã tặng tôi quyển sách này. b) Chị Dậu là nhân vật chính của tác phẩm “Tắt đèn ”.
c) Ngay tôi cũng không biết đến việc này. d) Anh phải nói ngay điều này cho cô giáo biết. e) Cha tôi là công nhân. f) Cô ấy đẹp ơi là đẹp.
g) Tôi nhớ mãi những kỉ niệm thời niên thiếu. h) Tôi nhắc anh những ba bốn lần mà anh vẫn quên. (4) Giải thích nghĩa của các trợ từ được in đậm trong các câu sau: a) Nhưng đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến. Mặc dù non một năm ròng mẹ tôi không gửi cho tôi lấy một là thư, nhắn người thăm tôi lấy một lời và gửi cho tôi lấy một đồng quà.
b) Hai đứa mê nhau lắm. Bố mẹ đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng gả. Nhưng họ thách nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau, còn rượu,.cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc. c) Tính ra cậu vàng cậu ấy ăn khỏe hơn cả tôi ông giáo a ! d) Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám Tựa nhau trông xuống thế gian cười 15 Như vậy, bài tập Tiếng Việt vừa là cách thức ôn tập củng cố tri thức lí thuyết vừa là phương tiện giúp HS rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ để ứng dụng chúng một cách thuần thục trong hoạt động giao tiếp hằng ngày.
Quan điểm giao tiếp và sự thể hiện của nó trong bài tập.Quan điểm giao tiếp Quan điểm giao tiếp là quan điểm dạy học xuất phát từ chức năng giao tiếp của ngôn ngữ và hướng tới mục đích phát triển năng lực giao tiếp cho HS. Dạy học TV dưới ánh sáng của quan điểm giao tiếp được thể hiện ở việc vận dụng lý thuyết của quan điểm giao tiếp vào quá trình dạy học. Theo tác giả Lê A quan niệm:“Dạy học Tiếng Việt là dạy hoạt động giao tiếp, trong và bằng giao tiếp nhằm củng cố và nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh” [3, tr62]. Định nghĩa này đã đề cập tới ba khía cạnh sau: Thứ nhất, bàn về nội dung dạy học TV thể hiện ở “dạy học Tiếng Việt là dạy hoạt động giao tiếp” bởi TV là phương tiện ngôn ngữ quan trọng nhất để giao tiếp, khi nói tới ngôn ngữ là nói tời hoạt động giao tiếp và ngược lại.
Thứ hai, bàn về cách thức dạy học ở trường phổ thông: “dạy học Tiếng Việt là trong và bằng giao tiếp”. Xác định môi trường dạy học TV phải là môi trường giao tiếp vì thế ngữ liệu và bài tập phải được lấy ra từ thực tiễn cuộc sống, là sản phẩm của giao tiếp trong môi trường thực tiễn. Khi GV dạy học nên cho HS quan sát cụ thể tình huống, cho các em thực hiện chính sự giao tiếp đó để HS trải nghiệm và tự rèn luyện TV cho mình. Dạy học TV không phải nhiệm vụ độc tôn của phân môn TV, mà nó nằm ở trong tất cả các môn học trong nhà trường.
Môi trường giao tiếp thực tế là điều kiện vô cùng quan trọng, GV cần phải phát huy kĩ năng sư phạm của mình để giờ dạy TV phải là giờ giao tiếp. Dạy TV chính là hoạt động giao tiếp của HS, GV phải sử dụng TV tạo ra hoạt động giao tiếp thực tế và môi trường giao tiếp đó phải tạo được hứng thú cho HS trong quá trình học. Ngoài giờ học kiến thức trên lớp, GV cho 16 HS thực hành ngay tại lớp học hoặc trong môi trường giao tiếp cụ thể từ các buổi ngoại khóa của trường. Thứ ba, mục tiêu cơ bản của dạy học TV là củng cố và nâng cao năng lực giao tiếp của HS.
HS cần giao tiếp TV theo đúng chuẩn mực, có phong cách riêng, bên cạnh mục tiêu chính trên nó còn giúp HS phát triển tư duy, phát triển nhân cách để hoàn thiện bản thân. Dạy học TV không chỉ đơn thuần là các tiết dạy về khoa học nghiên cứu TV mà còn là dạy cách giao tiếp cho HS. Dạy học TV phải xuất phát từ chức năng giao tiếp mới có thể giúp HS hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách hiệu quả ở cả bốn dạng: nghe, nói, đọc, viết. Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong bài tập Trong khi thiết kế bài tập Tiếng Việt, quan điểm giao tiếp được thể hiện trong những phương diện cơ bản sau: Một là, mục đích mà bài tập hướng tới phải là mục đích giao tiếp.
Mục đích của việc dạy học TV là giúp cho học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp. Trước đây, theo quan điểm truyền thống thì dạy TV là dạy theo hướng tiếp cận tri thức, hình thành hệ thống các khái niệm về TV. Quan điểm này cho rằng làm sao để HS chiếm lĩnh được tri thức TV càng nhiều càng tốt, càng hiện đại càng tốt. Đây là tư tưởng cực đoan khi cho rằng sản phẩm của giáo dục là các khái niệm, tri thức và sản phẩm của TV là hệ thống khái niệm; từ đó tạo ra một lớp người hiểu được TV nhưng không sử dụng thành thạo trong giao tiếp.
Trải qua một thời gian dài nghiên cứu tìm tòi các nhà nghiên cứu thấy rằng việc sử dụng quan điểm giao tiếp trong dạy học TV nó như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình học TV của học sinh, đồng thời nó căn cứ vào bản chất thực sự của bộ môn: dạy Tiếng Việt là dạy giao tiếp. Từ mục đích ấy, bài tập phải đưa được HS vào tình huống giao tiếp cụ thể mà các em có thể hiểu được, tiếp cận được chứ không nên đưa ra những tình huống xa rời thực tế khiến các em khó hình dung. 17 VD: Dạy bài: Từ tượng thanh, từ tượng hình. Phân tích giá trị gợi hình tượng của các từ tượng hình và tượng thanh trong đoạn văn sau: Buổi sáng tinh mơ ngày chủ nhật Lan theo mẹ ra đồng gặt lúa.