Luận văn thạc sĩ vnu ued dạy học nguyên lý cực trị cho học sinh trung học phổ thông theo hướng tăng cường khả năng tự học

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ued dạy học nguyên lý cực trị cho học sinh trung học phổ thông theo hướng tăng cường khả năng, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Trường Đại học Giáo dục

Chuyên ngành

Sư phạm Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

114
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Các quan niệm và vai trò của tự học

1.2. Các quan niệm về tự học

1.3. Các khái niệm về năng lực

1.4. Vai trò của tự học

1.5. Mối quan hệ giữa dạy học và tự học

1.6. Những kĩ năng cần thiết của người tự học môn Toán

1.7. Nội dung của quá trình tự học

1.7.1. Xây dựng động cơ học tập

1.7.2. Xây dựng kế hoạch học tập

1.7.3. Tự mình nắm vững nội dung tri thức

1.7.4. Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập

1.8. Các bước tiến hành hướng dẫn HS tự học Đại số - Giải tích ở THPT

1.8.1. Xây dựng mô hình giảng dạy

1.8.2. Xây dựng chương trình tự học

1.8.3. Hướng dẫn học sinh đọc sách toán ở trung học phổ thông

1.8.4. Xây dựng tủ sách tham khảo

1.8.5. Xây dựng bài giảng

1.8.6. Phương pháp kiểm tra đánh giá việc tự học

1.9. Thực trạng tự học môn toán của học sinh ở Trường THPT

1.9.1. Thực trạng tự học toán ở Trường THPT hiện nay

1.9.2. Thực trạng tự học toán ở Trường THPT Nhị Chiểu – Hải Dương

1.10. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ MỘT SỐ BÀI GIẢNG NGUYÊN LÝ CỰC TRỊ THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Một số phương pháp tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số

2.2. Định nghĩa giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số

2.3. Một vài nguyên lý cực trị áp dụng trong tìm điều kiện có nghiệm của phương trình và bất phương trình

2.4. Giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của hàm số trên khoảng, đoạn

2.5. Một số mở rộng từ các nguyên lý cực trị

2.6. Thiết kế một số bài giảng tăng cường khả năng tự học của học sinh thông qua dạy học nguyên lý cực trị

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Nội dung thực nghiệm

3.3. Tổ chức thực nghiệm

3.4. Đối tượng thực nghiệm

3.5. Kế hoạch thực nghiệm

3.6. Bố trí thực nghiệm

3.7. Tiến hành thực nghiệm

3.8. Đánh giá kết quả thực nghiệm

3.9. Cơ sở đánh giá thực nghiệm sư phạm

3.10. Kết quả thực nghiệm sư phạm

3.11. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về dạy học nguyên lý cực trị và khả năng tự học

Dạy học nguyên lý cực trị là một phần quan trọng trong chương trình toán học trung học phổ thông. Nguyên lý này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm toán học mà còn phát triển khả năng tư duy logic và khả năng tự học. Việc tăng cường khả năng tự học cho học sinh thông qua dạy học nguyên lý cực trị là một thách thức lớn đối với giáo viên. Để đạt được điều này, cần có những phương pháp dạy học hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng học sinh.

1.1. Khái niệm về nguyên lý cực trị trong toán học

Nguyên lý cực trị liên quan đến việc tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của hàm số. Đây là một trong những khái niệm cơ bản trong giải tích, giúp học sinh phát triển tư duy phân tích và giải quyết vấn đề. Việc hiểu rõ nguyên lý này sẽ giúp học sinh áp dụng vào thực tiễn và các bài toán phức tạp hơn.

1.2. Tầm quan trọng của khả năng tự học trong giáo dục

Khả năng tự học là yếu tố quyết định trong việc nâng cao chất lượng học tập. Học sinh có khả năng tự học sẽ chủ động tìm kiếm kiến thức, phát triển kỹ năng và tư duy độc lập. Điều này không chỉ giúp học sinh trong quá trình học tập mà còn trong cuộc sống sau này.

II. Những thách thức trong dạy học nguyên lý cực trị cho học sinh trung học

Dạy học nguyên lý cực trị cho học sinh trung học phổ thông gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự khác biệt về năng lực học tập giữa các học sinh. Nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc hiểu và áp dụng nguyên lý này vào bài tập thực tế. Ngoài ra, thời gian dạy học hạn chế cũng là một yếu tố cản trở việc truyền đạt kiến thức hiệu quả.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh

Nhiều học sinh không nắm vững các khái niệm cơ bản trước khi học nguyên lý cực trị, dẫn đến việc khó khăn trong việc áp dụng. Việc thiếu hụt kiến thức nền tảng này cần được khắc phục thông qua các phương pháp dạy học phù hợp.

2.2. Thời gian dạy học hạn chế và áp lực học tập

Thời gian dạy học cho phần nguyên lý cực trị thường không đủ để học sinh có thể nắm vững lý thuyết và thực hành. Áp lực từ các môn học khác cũng khiến học sinh không thể tập trung vào việc học toán một cách hiệu quả.

III. Phương pháp dạy học nguyên lý cực trị hiệu quả cho học sinh

Để tăng cường khả năng tự học cho học sinh thông qua dạy học nguyên lý cực trị, cần áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại. Các phương pháp này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về nguyên lý mà còn khuyến khích sự chủ động trong học tập. Việc sử dụng công nghệ thông tin và các tài liệu học tập phong phú cũng là một giải pháp hiệu quả.

3.1. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Công nghệ thông tin có thể được sử dụng để tạo ra các bài giảng sinh động và hấp dẫn hơn. Việc sử dụng phần mềm mô phỏng và các ứng dụng học tập trực tuyến giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về nguyên lý cực trị.

3.2. Tạo môi trường học tập tích cực

Môi trường học tập tích cực sẽ khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học. Việc tổ chức các hoạt động nhóm, thảo luận và giải quyết vấn đề sẽ giúp học sinh phát triển kỹ năng tự học và tư duy phản biện.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nguyên lý cực trị trong học tập

Nguyên lý cực trị không chỉ có giá trị trong lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống. Học sinh có thể áp dụng nguyên lý này để giải quyết các bài toán thực tế, từ đó nâng cao khả năng tư duy và giải quyết vấn đề. Việc liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn sẽ giúp học sinh thấy được giá trị của kiến thức đã học.

4.1. Ứng dụng trong các bài toán thực tế

Học sinh có thể áp dụng nguyên lý cực trị để giải quyết các bài toán liên quan đến tối ưu hóa trong kinh tế, kỹ thuật và các lĩnh vực khác. Việc này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về nguyên lý mà còn phát triển khả năng tư duy sáng tạo.

4.2. Tăng cường khả năng tư duy phản biện

Việc áp dụng nguyên lý cực trị vào thực tiễn giúp học sinh phát triển khả năng tư duy phản biện. Học sinh sẽ học cách phân tích và đánh giá các tình huống khác nhau, từ đó đưa ra quyết định hợp lý.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai trong dạy học

Dạy học nguyên lý cực trị cho học sinh trung học phổ thông là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Việc tăng cường khả năng tự học cho học sinh thông qua các phương pháp dạy học hiện đại sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học mới để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.

5.1. Định hướng phát triển phương pháp dạy học

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học mới, phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của học sinh. Việc áp dụng công nghệ thông tin và các tài liệu học tập phong phú sẽ là một hướng đi quan trọng.

5.2. Khuyến khích sự chủ động của học sinh trong học tập

Khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động sẽ giúp nâng cao khả năng tự học. Việc tạo ra môi trường học tập tích cực và hỗ trợ học sinh trong việc phát triển kỹ năng tự học là rất cần thiết.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued dạy học nguyên lý cực trị cho học sinh trung học phổ thông theo hướng tăng cường khả năng tự học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các quan niệm và vai trò của tự học 1. Các quan niệm về tự học Trong thời đại kinh tế tri thức với xu thế toàn cầu hóa, khả năng tư duy của con người trở thành tài sản vô giá. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, mỗi con người cần phải biết tự học suốt đời, rèn luyện khả năng tìm tòi, khám phá và sáng tạo tri thức không ngừng.

Tự học là một vấn đề có tính truyền thống và tính phổ biến không chỉ ở nước ta mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới. Khổng Tử đã ý thức được tầm quan trọng của vệc tự học đối với mỗi con người, ông cho rằng: “cách học quan trọng hơn học cái gì”. Trong lịch sử phát triển ở Việt Nam, hoạt động tự học được chú ý từ lâu. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học.

Người đã từng khuyên phải biết chủ động học tập, tìm đủ mọi cách mà học. Theo Bác “về cách học phải lấy tự học làm cốt”. Có nhiều quan niệm về tự học: - Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học là học một cách tự động, tức là: Học tập một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra, đánh giá việc học của mình. - Trong quyển Học và dạy cách học, GS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó trở thành sở hữu của chính mình”.

- Theo tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998 cũng bàn về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”. - Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”. - Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy Tuyên khẳng định: “Tự học là một hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, … ) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”.

Từ những quan điểm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân. Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy. Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi người học phải tự thân tiếp nhận tri thức theo nhiều nguồn. Tự thân rèn luyện các kĩ năng, tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi lúc, mọi nơi.

Các khái niệm về năng lực a. Khái niệm về năng lực Theo nhà tâm lý học Nga nổi tiếng V.Cruchetxki thì: “Năng lực được hiểu như là: Một phức hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân của con người đáp ứng những nhu cầu của một hoạt động nào đó và là điều kiện để thực hiện thành công hoạt động đó”. Như vậy, nói đến năng lực là nói đến một cái gì đó tiềm ẩn trong một cá thể, một thứ phi vật chất. Song nó thể hiện ra được qua hoạt động và đánh giá được nó qua kết quả hoạt động.Thông thường, một 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người được gọi là có năng lực nếu người đó nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của một loại hoạt động nào đó và đạt được kết quả tốt hơn, cao hơn so với trình độ trung bình của những người khác cũng tiến hành hoạt động đó trong những điều kiện và hoàn cảnh tương đương.

Người ta thường phân biệt ba trình độ của năng lực: - Năng lực là tổng hòa các kỹ năng, kỹ xảo; - Tài năng là một tổ hợp các năng lực tạo nên tiền đề thuận lợi cho hoạt động có kết quả cao, những thành tích đạt được này vẫn nằm trong khuôn khổ cho những thành tựu đạt được của xã hội loài người; - Thiên tài là một tổ hợp đặc biệt các năng lực, nó cho phép đạt được những thành tựu sáng tạo mà có ý nghĩa lịch sử vô song.Khi nói đến năng lực phải nói đến năng lực trong loại hoạt động nhất định của con người. Năng lực chỉ nảy sinh và quan sát được trong hoạt động giải quyết những yêu cầu đặt ra. Khái niệm năng lực Toán học Về khái niệm năng lực Toán học, theo nhà tâm lý học người Nga V. Cruchetxki sẽ được giải thích trên hai bình diện: - Như là các năng lực sáng tạo (khoa học), các năng lực hoạt động Toán học tạo ra được các kết quả, thành tựu mới, khách quan và quý giá; - Như là các năng lực học tập giáo trình phổ thông, lĩnh hội nhanh chóng và có kết quả cao các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.

Như vậy, năng lực Toán học là các đặc điểm tâm lý cá nhân (trước hết là các đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng được các yêu cầu của hoạt động học Toán và tạo điều kiện lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực Toán học tương đối nhanh, dễ dàng và sâu sắc trong những điều kiện như nhau.Cruchetxki, có 8 đặc điểm hoạt động trí tuệ của học sinh có năng lực Toán học là: - Khả năng tri giác có tính chất hình thức hóa tài liệu Toán học, gắn liền với sự thâu tóm nhanh chóng các cấu trúc hình thức của chúng trong một bài toán cụ thể vào trong một biểu thức Toán học; 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khả năng tư duy có tính khái quát nhanh và rộng; - Xu thế suy nghĩ bằng những suy lý rút gọn; - Sự tư duy logic lành mạnh; - Tính linh hoạt cao của các quá trình tư duy thể hiện ở sự xem xét cách giải các bài toán theo nhiều khía cạnh khác nhau; sự di chuyển dễ dàng và tự do từ một thao tác trí tuệ này sang một thao tác trí tuệ khác, từ tiến trình suy nghĩ thuận sang tiến trình suy nghĩ nghịch; - Xu hướng tìm tới cách giải tối ưu cho một vấn đề toán học, khát vọng tìm ra lời giải rõ ràng, đơn giản, hợp lý, tiết kiệm; - Trí nhớ có tính chất khái quát về các kiểu bài toán, các phương thức giải, sơ đồ lập luận, sơ đồ logic; - Khả năng tư duy logic, trừu tượng phát triển tốt. Khái niệm về năng lực giải toán Trên đây đã nói đến khái niệm năng lực, năng lực toán học. Năng lực giải toán là một phần của năng lực toán học. Vậy năng lực giải toán là gì và thể hiện như thế nào? Năng lực giải toán là khả năng áp dụng tiến trình thực hiện việc giải quyết một vấn đề có tính hướng đích cao, đòi hỏi huy động khả năng tư duy tích cực và sáng tạo, nhằm đạt được kết quả sau một số bước thực hiện.

Như vậy, một người được coi là có năng lực giải toán nếu người đó nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của hoạt động giải toán và đạt được kết quả tốt hơn, cao hơn so với trình độ của những người khác cùng tiến trình hoạt động giải toán đó trong những điều kiện và hoàn cảnh tương đương. Từ đặc điểm hoạt động trí tuệ của những học sinh có năng lực toán học và khái niệm về năng lực giải toán chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm và cấu trúc của năng lực giải toán như sau: - Khả năng lĩnh hội nhanh chóng quy trình giải một bài toán và các yêu cầu của một lời giải, biết trình bày lời giải rõ ràng, đẹp đẽ; 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Sự phát triển mạnh mẽ của tư duy logic, tư duy sáng tạo thể hiện ở khả năng lập luận chính xác, về quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán; - Có năng lực phân tích, tổng hợp trong lĩnh vực thao tác với cácký hiệu, ngôn ngữ toán học. Khả năng chuyển đổi từ điều kiện của bài toán sang ngôn ngữ: ký hiệu, quan hệ, phép toán giữa các đối tượng đã biết, chưa biết và ngược lại; - Có tính độc lập và độc đáo cao trong khi giải toán và sự phát triển của năng lực giải quyết vấn đề; - Có tính tích cực, kiên trì về mặt ý chí và khả năng huy động trí óc cao trong lao động giải toán; - Khả năng tìm tòi nhiều lời giải, huy động nhiều kiến thức cùng lúc vào việc giải bài tập, từ đó lựa chọn được lời giải tối ưu; - Có khả năng kiểm tra các kết quả đã đạt được và hình thành được một số kiến thức mới thông qua hoạt động giải toán, tránh được những nhầm lẫn trong quá trình giải toán; - Có khả năng nêu ra được một số bài tập tương tự cùng với cách giải (có thể là định hướng giải, hoặc quy trình có tính thuật toán, hoặc thuật toán để giải bài toán đó); - Có khả năng khái quát hóa từ bài toán cụ thể dẫn đến bài toán tổng quát, từ bài toán có một số yếu tố tổng quát đến bài toán có nhiều yếu tố tổng quát nhờ các thao tác trí tuệ: phân tích, so sánh, tổng hợp, tương tự, trừu tượng, hệ thống hóa, đặc biệt hóa. Bàn về năng lực, cũng có ý kiến cho rằng: năng lực là do thượng đế ban cho.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Dạy Học Nguyên Lý Cực Trị Tăng Cường Khả Năng Tự Học Cho Học Sinh Trung Học" tập trung vào việc áp dụng nguyên lý cực trị trong giảng dạy nhằm nâng cao khả năng tự học của học sinh trung học. Tài liệu này không chỉ cung cấp những phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề cho học sinh. Qua đó, học sinh sẽ được trang bị những kỹ năng cần thiết để tự học và tự nghiên cứu, từ đó nâng cao kết quả học tập.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và phát triển năng lực học sinh, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Dạy học chủ đề hàm số ở trung học cơ sở theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong giảng dạy. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ quản lý dạy học môn ngữ văn cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách quản lý và tổ chức dạy học để nâng cao năng lực học sinh. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ giáo dục học phát triển tư duy sáng tạo sẽ mang đến những phương pháp sáng tạo trong dạy học, giúp học sinh phát triển tư duy độc lập và sáng tạo. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các phương pháp giảng dạy hiện đại và hiệu quả.