Khóa luận các phương pháp chứng minh bất đẳng thức - Vương Thị Ngát

Khóa luận tốt nghiệp ngành Sư phạm Toán học về các phương pháp chứng minh bất đẳng thức AM-GM. Tổng hợp kỹ thuật chọn điểm rơi, ghép đôi xứng, thêm bớt.

Trường đại học

Trường Đại học Giáo dục

Tác giả

Vương Thị Ngát

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

75
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về bất đẳng thức AM GM và lịch sử hình thành

Bất đẳng thức AM-GM (Arithmetic Mean – Geometric Mean) là một trong những bất đẳng thức cơ bản và quan trọng nhất trong chương trình toán phổ thông cũng như toán Olympic. Phát biểu chính xác: Với mọi dãy số thực không âm (x_1, x_2, \ldots, x_n), luôn có (\frac{x_1 + x_2 + \cdots + x_n}{n} \geq \sqrt[n]{x_1 x_2 \cdots x_n}), và đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi (x_1 = x_2 = \cdots = x_n). Mặc dù ở Việt Nam thường gọi là bất đẳng thức Cauchy, điều này không chính xác về mặt lịch sử. Augustin-Louis Cauchy chỉ là người đưa ra một phép chứng minh đặc sắc, không phải tác giả đầu tiên. Theo nghiên cứu của G.H. Hardy và J.E. Littlewood, bất đẳng thức này đã xuất hiện từ thời cổ đại, được sử dụng trong hình học và đại số. Tài liệu khóa luận của Vương Thị Ngát (2018, Đại học Giáo dục – ĐHQGHN) nhấn mạnh rằng việc hiểu đúng nguồn gốc giúp học sinh tiếp cận phương pháp chứng minh bất đẳng thức AM-GM một cách có hệ thống, thay vì học thuộc máy móc. Việc nắm vững bản chất cũng là nền tảng để vận dụng linh hoạt trong các bài toán tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, hay trong các bài toán tối ưu.

1.1. Bất đẳng thức AM GM là gì và tại sao lại quan trọng

Bất đẳng thức AM-GM thiết lập mối quan hệ giữa trung bình cộngtrung bình nhân của các số không âm. Đây là công cụ mạnh trong việc so sánh, ước lượng và tối ưu hóa biểu thức. Trong chương trình THPT, nó thường xuất hiện trong các đề thi học sinh giỏi và kỳ thi tuyển sinh đại học. Tính ứng dụng cao khiến nó trở thành nội dung cốt lõi trong giảng dạy toán học.

1.2. Lịch sử phát triển và những đóng góp quan trọng

G.H. Hardy được xem là người tiên phong trong việc hệ thống hóa các bất đẳng thức kinh điển, trong đó có AM-GM. S. Mitrinović sau đó tiếp tục mở rộng qua các công trình như “Analytic Inequalities”. Ở Việt Nam, các tác giả như Phan Huy Khải, Võ Quốc Bá Cẩn đã có nhiều đóng góp trong việc phổ biến và phát triển kỹ thuật chứng minh dựa trên AM-GM. Khóa luận của Vương Thị Ngát (2018) tổng hợp và phân loại các phương pháp này một cách bài bản, phù hợp với đối tượng sư phạm toán học.

II. Những thách thức khi chứng minh bất đẳng thức AM GM trong giảng dạy

Việc dạy và học các phương pháp chứng minh bất đẳng thức AM-GM gặp không ít khó khăn. Học sinh thường lúng túng khi lựa chọn kỹ thuật phù hợp, dẫn đến lời giải dài dòng hoặc sai lầm logic. Một số giáo viên cũng chưa hệ thống hóa được các kỹ thuật cơ bản, khiến việc truyền đạt thiếu mạch lạc. Theo Vương Thị Ngát (2018), nguyên nhân chính nằm ở việc thiếu tư duy tổng hợpphân tích định hướng. Học sinh thường áp dụng máy móc mà không hiểu bản chất của từng bước biến đổi. Ví dụ, khi gặp biểu thức có dạng (a + b + c \geq 3\sqrt[3]{abc}), nhiều em không nhận ra đây là trường hợp (n=3) của AM-GM, hoặc không biết cách ghép cặp để áp dụng. Ngoài ra, việc thiếu kỹ năng thêm bớt hoặc chọn điểm rơi khiến lời giải trở nên gượng ép. Những thách thức này đòi hỏi giáo viên phải thiết kế bài giảng theo hướng phát triển năng lực, thay vì chỉ truyền đạt kiến thức. Việc tích hợp các kỹ thuật chứng minh vào hệ thống bài tập phân hóa là giải pháp hiệu quả được đề xuất trong nhiều nghiên cứu giáo dục hiện đại.

2.1. Khó khăn phổ biến của học sinh khi tiếp cận AM GM

Học sinh thường gặp khó trong việc nhận dạng dạng toán, xác định điều kiện đẳng thức, hoặc biến đổi biểu thức sao cho phù hợp với AM-GM. Nhiều em cố gắng áp dụng bất đẳng thức mà không kiểm tra điều kiện không âm, dẫn đến sai sót nghiêm trọng. Đây là biểu hiện của việc học vẹt thay vì hiểu sâu.

2.2. Hạn chế trong phương pháp giảng dạy hiện nay

Nhiều giáo viên vẫn tập trung vào việc trình bày lời giải mẫu mà ít chú trọng đến quá trình tư duy dẫn đến lời giải đó. Điều này khiến học sinh không hình thành được kỹ năng phân tích bài toán, đặc biệt trong các tình huống phức tạp cần kết hợp nhiều kỹ thuật như AM-GM ngược dấu hoặc ghép đối xứng.

III. Top 5 phương pháp chứng minh bất đẳng thức AM GM hiệu quả nhất

Có nhiều phương pháp chứng minh bất đẳng thức AM-GM, nhưng năm kỹ thuật sau được đánh giá là hiệu quả và phổ biến nhất trong giảng dạy và thi cử. Thứ nhất, phương pháp quy nạp toán học – cách tiếp cận cổ điển, chặt chẽ, phù hợp để chứng minh dạng tổng quát. Thứ hai, kỹ thuật chọn điểm rơi, giúp xác định điều kiện đẳng thức và định hướng biến đổi. Thứ ba, kỹ thuật ghép đôi đối xứng, đặc biệt hữu ích khi biểu thức có tính đối xứng cao. Thứ tư, kỹ thuật thêm bớt, cho phép tạo ra các nhóm số phù hợp để áp dụng AM-GM. Cuối cùng, kỹ thuật AM-GM ngược dấu, dùng để xử lý các biểu thức có mẫu số hoặc dạng phân thức. Theo khóa luận của Vương Thị Ngát (2018), việc kết hợp linh hoạt các kỹ thuật này giúp giải quyết đa dạng bài toán, từ cơ bản đến nâng cao. Mỗi phương pháp đều có ưu điểm riêng và phù hợp với từng lớp bài toán cụ thể. Việc luyện tập có hệ thống sẽ giúp hình thành phản xạ tư duykỹ năng giải quyết vấn đề.

3.1. Phương pháp quy nạp và kỹ thuật chọn điểm rơi

Quy nạp toán học là cách chứng minh chặt chẽ cho bất đẳng thức AM-GM với mọi (n). Trong khi đó, chọn điểm rơi giúp xác định giá trị các biến khi đẳng thức xảy ra, từ đó định hướng việc tách hoặc nhóm hạng tử. Đây là hai kỹ thuật nền tảng trong sáng kiến kinh nghiệm giảng dạy bất đẳng thức.

3.2. Ghép đôi đối xứng và thêm bớt thông minh

Khi biểu thức có tính đối xứng, ghép đôi các biến giúp đơn giản hóa và áp dụng AM-GM dễ dàng. Thêm bớt là kỹ thuật tinh tế, yêu cầu người giải phải dự đoán trước cấu trúc sau biến đổi. Ví dụ, thêm hằng số để tạo thành tích có căn bậc hai hoặc bậc ba.

3.3. Kỹ thuật AM GM ngược dấu trong bài toán phân thức

Với các biểu thức dạng (\frac{1}{a} + \frac{1}{b}), thay vì áp dụng AM-GM trực tiếp, AM-GM ngược dấu cho phép biến đổi thành (\frac{1}{a} + \frac{1}{b} \geq \frac{4}{a+b}). Kỹ thuật này rất hiệu quả trong các bài toán bất đẳng thức có mẫu.

IV. Ứng dụng thực tiễn của bất đẳng thức AM GM trong toán học và đời sống

Bất đẳng thức AM-GM không chỉ là công cụ lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn rộng rãi. Trong toán học, nó được dùng để tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số, giải các bài toán tối ưu trong đại số và hình học. Ví dụ, trong hình học, AM-GM giúp chứng minh rằng trong tất cả các hình chữ nhật có cùng chu vi, hình vuông có diện tích lớn nhất. Trong kinh tế học, bất đẳng thức này hỗ trợ mô hình hóa các bài toán phân bổ tài nguyên hiệu quả. Trong vật lý, nó xuất hiện trong các nguyên lý tối ưu như nguyên lý tác dụng tối thiểu. Theo nghiên cứu của Vương Thị Ngát (2018), việc lồng ghép các tình huống thực tiễn vào bài giảng giúp học sinh thấy được ý nghĩa của toán học, từ đó tăng động lực học tập. Đặc biệt, trong chương trình giáo dục phổ thông mới, định hướng gắn toán học với thực tiễn càng được nhấn mạnh. Do đó, giáo viên nên thiết kế các hoạt động trải nghiệm, dự án nhỏ liên quan đến ứng dụng bất đẳng thức AM-GM.

4.1. Ứng dụng trong giải toán THPT và Olympic

AM-GM là công cụ không thể thiếu trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia và quốc tế. Nhiều bài toán tìm GTLN/GTNN được giải nhanh gọn nhờ AM-GM. Việc thành thạo các kỹ thuật chứng minh giúp học sinh đạt điểm cao và phát triển tư duy phản biện.

4.2. Mô hình hóa bài toán thực tế bằng AM GM

Ví dụ: Một nông dân có 100m hàng rào, muốn rào một mảnh đất hình chữ nhật để có diện tích lớn nhất. Áp dụng AM-GM, dễ dàng suy ra hình vuông là phương án tối ưu. Đây là minh chứng rõ ràng cho giá trị ứng dụng của toán học trong đời sống.

V. Hướng dẫn tích hợp các phương pháp AM GM vào giảng dạy hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả giảng dạy các phương pháp chứng minh bất đẳng thức AM-GM, giáo viên cần xây dựng lộ trình học tập có hệ thống. Đầu tiên, nên bắt đầu từ các trường hợp đơn giản (n = 2, 3) để học sinh làm quen với bản chất. Sau đó, giới thiệu từng kỹ thuật cơ bản kèm ví dụ minh họa rõ ràng. Tiếp theo, tổ chức các hoạt động nhóm để học sinh thảo luận và so sánh nhiều cách giải cho cùng một bài toán. Cuối cùng, giao bài tập phân hóa theo năng lực, từ nhận biết đến vận dụng cao. Tài liệu của Vương Thị Ngát (2018) đề xuất mô hình “3 bước: Nhận dạng – Phân tích – Vận dụng”, giúp học sinh chủ động trong quá trình học. Ngoài ra, việc sử dụng công nghệ thông tin như phần mềm vẽ đồ thị hoặc mô phỏng có thể trực quan hóa kết quả bất đẳng thức, tăng hứng thú học tập. Đánh giá cũng cần thay đổi: thay vì chỉ chấm điểm lời giải, nên đánh giá cả quá trình tư duysáng tạo của học sinh.

5.1. Thiết kế bài giảng theo hướng phát triển năng lực

Bài giảng nên đặt học sinh vào vai trò trung tâm, khuyến khích tự khám pháhợp tác. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, cung cấp gợi ý chiến lược thay vì đưa ra lời giải sẵn. Điều này phù hợp với định hướng giáo dục STEMdạy học tích cực.

5.2. Đánh giá quá trình và khuyến khích sáng tạo

Học sinh nên được khen ngợi khi đưa ra lời giải độc đáo, dù chưa tối ưu. Việc ghi nhận nỗ lực tư duy quan trọng hơn sự hoàn hảo của đáp án. Đây là cách xây dựng môi trường học tập an toàn và sáng tạo.

VI. Tương lai của việc giảng dạy bất đẳng thức AM GM trong kỷ nguyên số

Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, giảng dạy bất đẳng thức AM-GM cần được hiện đại hóa. Các nền tảng học trực tuyến, video bài giảng tương tác, và hệ thống bài tập thông minh có thể cá nhân hóa lộ trình học cho từng học sinh. Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể phân tích lỗi sai phổ biến và đề xuất kỹ thuật chứng minh phù hợp. Ngoài ra, các diễn đàn toán học trực tuyến như Art of Problem Solving (AoPS) hay Diễn đàn Toán học Việt Nam giúp học sinh trao đổi, học hỏi từ cộng đồng. Theo xu hướng giáo dục toàn cầu, tư duy phản biệngiải quyết vấn đề mở sẽ ngày càng được coi trọng hơn so với kỹ năng tính toán thuần túy. Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy bất đẳng thức AM-GM không chỉ là yêu cầu sư phạm mà còn là nhu cầu tất yếu của thời đại. Các nghiên cứu sau này nên tập trung vào việc tích hợp dữ liệu lớnhọc máy để tối ưu hóa quá trình dạy – học toán bất đẳng thức.

6.1. Vai trò của công nghệ trong dạy học bất đẳng thức

Công nghệ giúp trực quan hóa các khái niệm trừu tượng, cho phép học sinh “thấy” được sự thay đổi của biểu thức khi biến số thay đổi. Điều này củng cố trực giác toán học – yếu tố then chốt trong việc giải bất đẳng thức.

6.2. Định hướng nghiên cứu và phát triển chuyên sâu

Các khóa luận, luận văn sau này nên mở rộng sang ứng dụng AM-GM trong toán cao cấp, như giải tích hàm, lý thuyết xác suất, hoặc tối ưu hóa phi tuyến. Việc kết nối toán phổ thông với toán đại học sẽ tạo ra hành trình học tập liên tục cho sinh viên sư phạm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận va khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được trình bày trong 2 chương, Chương l. Tổng quan về bát đẳng thie AM— GM. Một số kỹ thuật cơ bản trong bất đẳng thức AM. bất đẳng thức.

Nhưng những vẫn đề họ viết đa phan déu kha han lam, do đó với năng lực của học sinh bình thường thi rất khó lĩnh hội. Tần thân là một giáo viên dạy Toán tương lai, hy vợng bằng ngôn ngữ và sự nhiệt huyết của mình, em có thể truyền tãi đến học sinh các vân đề về bắt đẳng thức một cách đơn giản. và đễ hiểu nhất. Đó là lý đo em mạnh đạn xác định tên để tài nghiên cứu của em là: “Các phương pháp chứng minh: bắt đẳng thườc”.

Mục đích nghiên cứu ~_ Muôn trau đồi và bỗ sung kiến thức về nội dung bất đẳng Hưức, mội nội dung ma ban than con gặp phải nhiều khó khăn trong quả trình học tập cũng, như giảng, dạy. Sau znghiên cứu này, em hy vọng các kỹ năng về BDT của em sẽ được cải thiện. - Tao cho minh mét tai liệu riêng bằng ngôn ngữ và theo cách hiểu của bân thân, phục vụ cho quả trinh giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi, luyện thí đại học. Diễng thời, có thể gửi tới cho học sinh một tài liệu tham khảo về BĐT theo lỗi viết đơn giãn và dễ hiểu nhất -_ Gócơhội dé trao đôi, học hỏi kinh nghiệm từ những bạn bè đẳng nghiệp, những con trgười có chung niêm đam mê với BĐT gần xa 3.

Nhiệm vụ nghiên cứu -_ Bởi đưỡng và trau đổi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ. ~_ Gii tôi học sinh một số dạng bài tập có tỉnh vận dụng cao, được trình bảy từ mức độ dễ đến khó, nhằm súp học sinh từng bước nàng, cao kiên thức vả kỹ năng của minh: để đạt được kết quả tốt hơn trong các kỳ thí -_ Giúp học sinh nam được các phương pháp chứng minh BĐT và có cái nhìn tổng quát hơn vé BDT. Đối tượng, khách thể, phạm vỉ nghiên cứu -_ Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp chứng mình. -_ Khách thể nghiên cũu: nội dung BDT trong chương trình Toán phố thông, ~_ Phạm vi nghiên cửu: Các kỹ thuật cơ bản trong bất đẳng thúc AM —M 5.

Phương pháp nghiên cửu Trong để tài nghiên cứu nay, em đã kết hợp các phương pháp sau: -_ Phương pháp nghiên cửu lài hiệu 1. Lý đo chọn để tài “Trong chương trình Toán học hiện nay, bất đẳng thức luôn là một vận dé hay vả khó. Các bài toán về bát đắng thức xuất hiện khả phỏ biển trong các cuộc thi từ cấp tiểu học cho tới đại học, thậm chỉ là sau đại hoc. Đây là nội dưng chính dùng để phân loại học sinh trong, các kỳ thị, đặc biệt là các kỳ thị hợc sinh giỏi Quốc gia và Quốc tế.

'Vẻ đẹp và sự hắp đẫn của bất đẳng thức đổi với người yêu Toán là vô tận, nó luôn mang lại những cảm xúc khó tâ khi ta chính phục được một bài toán bất đẳng thức nào đỏ. Bất đẳng thức là một lĩnh vực quan trọng của Đại số học. Cúc nhá oán học đều có clung một nhận định rằng: “Cúc kết quả của touản học thường được biểu thị bằng những bất đẳng thức chứ không phải bằng những dũng thức”. Giống nhụ GS.

Hoang Tụy từng nói: “Các nhà Toán học làm việc với bắt dũng thức mhiều hơn là đẳng thức " Trong cuộc sống hằng ngày, ta biết rằng trạng thái cân bằng chỉ là tạm thời, là một khoảnh khắc nào đỏ. Mọi thử luôn vận động và phát triển, các trạng thái cản bằng sẽ nhanh chóng bị phá vỡ để thay vào đó là trang thái bắt cân bằng được tạo ra và hướng tới trang thái cân bằng mới. Nó cũng như đẳng thúc và bắt đẳng thức của guộc sống vậy, Vị bắt đẳng thức là một vẫn dé khó nên để làm tốt các bài toán về bắt đẳng thức luôn là một thử thách và mong muốn của người học toán. Các lời giải vẻ bắt đẳng thức nói chung thường khiển cho học sinh cảm thây như “từ trên trời rơi xuống”.

Khi giảng day vé bat ding thức bay tham kháo ở một tải liệu nào đỏ, chúng ta đều thường xuyên gặp phải các lời giái đâm loại như: “Ea có. ”, “ta chứng mình.” Học sinh thường xuyên phải chấp nhận những lời giải mang tỉnh chất áp đặt như thể, và đã nhiên là các học sinh hay chỉnh cáe thay cỏ cũng không thoải rải khi đón nhận hoặc trinh bảy những lời giải như vậy, Thực tế, không có lời giải nào từ trên trời rơi xuống cả, đó là kết quả cuối củng của sự may mé di tim phuong pháp và sảng tạo trong mỗi lời giải. Không những thể, nó còn là kết quả của sự khổ luyện có phương pháp mới cho ra lò những sản phẩm như vậy. Trước đây, viết về BĐT có các thấy Phan Huy Khát, Phạn Đức Chính, Đặng Hùng Thắng, Nguyễn Dức Tấn,.

Hiện nay, còn có các thây Trân Phương, Phạm Kim Tùng, Tran Tuan Anh, Võ Quốc Bá Cân, Võ Giang Giai. đó đếu là những bậc thay về lính vực 1 bất đẳng thức. Nhưng những vẫn đề họ viết đa phan déu kha han lam, do đó với năng lực của học sinh bình thường thi rất khó lĩnh hội. Tần thân là một giáo viên dạy Toán tương lai, hy vợng bằng ngôn ngữ và sự nhiệt huyết của mình, em có thể truyền tãi đến học sinh các vân đề về bắt đẳng thức một cách đơn giản.

và đễ hiểu nhất. Đó là lý đo em mạnh đạn xác định tên để tài nghiên cứu của em là: “Các phương pháp chứng minh: bắt đẳng thườc”. Mục đích nghiên cứu ~_ Muôn trau đồi và bỗ sung kiến thức về nội dung bất đẳng Hưức, mội nội dung ma ban than con gặp phải nhiều khó khăn trong quả trình học tập cũng, như giảng, dạy. Sau znghiên cứu này, em hy vọng các kỹ năng về BDT của em sẽ được cải thiện.

- Tao cho minh mét tai liệu riêng bằng ngôn ngữ và theo cách hiểu của bân thân, phục vụ cho quả trinh giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi, luyện thí đại học. Diễng thời, có thể gửi tới cho học sinh một tài liệu tham khảo về BĐT theo lỗi viết đơn giãn và dễ hiểu nhất -_ Gócơhội dé trao đôi, học hỏi kinh nghiệm từ những bạn bè đẳng nghiệp, những con trgười có chung niêm đam mê với BĐT gần xa 3. Nhiệm vụ nghiên cứu -_ Bởi đưỡng và trau đổi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ. ~_ Gii tôi học sinh một số dạng bài tập có tỉnh vận dụng cao, được trình bảy từ mức độ dễ đến khó, nhằm súp học sinh từng bước nàng, cao kiên thức vả kỹ năng của minh: để đạt được kết quả tốt hơn trong các kỳ thí -_ Giúp học sinh nam được các phương pháp chứng minh BĐT và có cái nhìn tổng quát hơn vé BDT.

Đối tượng, khách thể, phạm vỉ nghiên cứu -_ Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp chứng mình. -_ Khách thể nghiên cũu: nội dung BDT trong chương trình Toán phố thông, ~_ Phạm vi nghiên cửu: Các kỹ thuật cơ bản trong bất đẳng thúc AM —M 5. Phương pháp nghiên cửu Trong để tài nghiên cứu nay, em đã kết hợp các phương pháp sau: -_ Phương pháp nghiên cửu lài hiệu DANH MUC VIET TAT THPT Trưng học phổ thông ĐHQGHN Đại học Quốc Gia Hà Nội BĐT Bat ding thie AM-GM Arithmetic Mean — Geometric Mean, Bái đẳng thức giữa trung bình cộng và trung bình nhân CMR Ching mink ring GTLN Giá trị lớn nhất GINN Giá trị nhỏ nhất NXB Nha xuat ban HN Hà Nội 1. Lý đo chọn để tài “Trong chương trình Toán học hiện nay, bất đẳng thức luôn là một vận dé hay vả khó.

Các bài toán về bát đắng thức xuất hiện khả phỏ biển trong các cuộc thi từ cấp tiểu học cho tới đại học, thậm chỉ là sau đại hoc. Đây là nội dưng chính dùng để phân loại học sinh trong, các kỳ thị, đặc biệt là các kỳ thị hợc sinh giỏi Quốc gia và Quốc tế. 'Vẻ đẹp và sự hắp đẫn của bất đẳng thức đổi với người yêu Toán là vô tận, nó luôn mang lại những cảm xúc khó tâ khi ta chính phục được một bài toán bất đẳng thức nào đỏ. Bất đẳng thức là một lĩnh vực quan trọng của Đại số học.

Cúc nhá oán học đều có clung một nhận định rằng: “Cúc kết quả của touản học thường được biểu thị bằng những bất đẳng thức chứ không phải bằng những dũng thức”. Giống nhụ GS. Hoang Tụy từng nói: “Các nhà Toán học làm việc với bắt dũng thức mhiều hơn là đẳng thức " Trong cuộc sống hằng ngày, ta biết rằng trạng thái cân bằng chỉ là tạm thời, là một khoảnh khắc nào đỏ. Mọi thử luôn vận động và phát triển, các trạng thái cản bằng sẽ nhanh chóng bị phá vỡ để thay vào đó là trang thái bắt cân bằng được tạo ra và hướng tới trang thái cân bằng mới.

Nó cũng như đẳng thúc và bắt đẳng thức của guộc sống vậy, Vị bắt đẳng thức là một vẫn dé khó nên để làm tốt các bài toán về bắt đẳng thức luôn là một thử thách và mong muốn của người học toán. Các lời giải vẻ bắt đẳng thức nói chung thường khiển cho học sinh cảm thây như “từ trên trời rơi xuống”. Khi giảng day vé bat ding thức bay tham kháo ở một tải liệu nào đỏ, chúng ta đều thường xuyên gặp phải các lời giái đâm loại như: “Ea có. ”, “ta chứng mình.” Học sinh thường xuyên phải chấp nhận những lời giải mang tỉnh chất áp đặt như thể, và đã nhiên là các học sinh hay chỉnh cáe thay cỏ cũng không thoải rải khi đón nhận hoặc trinh bảy những lời giải như vậy, Thực tế, không có lời giải nào từ trên trời rơi xuống cả, đó là kết quả cuối củng của sự may mé di tim phuong pháp và sảng tạo trong mỗi lời giải.

Không những thể, nó còn là kết quả của sự khổ luyện có phương pháp mới cho ra lò những sản phẩm như vậy. Trước đây, viết về BĐT có các thấy Phan Huy Khát, Phạn Đức Chính, Đặng Hùng Thắng, Nguyễn Dức Tấn,. Hiện nay, còn có các thây Trân Phương, Phạm Kim Tùng, Tran Tuan Anh, Võ Quốc Bá Cân, Võ Giang Giai. đó đếu là những bậc thay về lính vực 1 CUIUONG 1.

TONG QUAN VE. BAT DANG TIC AM- GM 1. GIỚI THIỆU VE BAT BANG THUC AM-GM 'Trong chương trình Toản phỏ thông hiện nay, chủng ta đều biết đến bắt đẳng thức sau: Nếu x,„+.x„ là các số thục không âm, thì —*, +. tá, n >x a Đẳng thức xây ra khi và chỉ khi x, =x, =.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ