CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực và năng lực mô hình hóa Toán học 1. Năng lực Có rất nhiều những quan điểm, khái niệm, định nghĩa khác nhau về NL: Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (2000) chủ biên thì NL được hiểu là “Khả năng điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” hoặc là “Phẩm chất tâm lí và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
[14] Theo dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2015) của Bộ GD&ĐT thì: “NL là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”. [3] NL là tổ hợp các thuộc tính mang tính cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả. [18] NL còn là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ để thực hiện một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống”.
[7] NL trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 là “thuộc tính cá nhân được hình thành phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện, cho phép con người huy động tập hợp các kiến thức, kĩ năng và thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể”. [3] Theo chương trình PISA năm 2015 cho rằng: năng lực toán học là khả năng cá nhân biết lập công thức (formulate), vận dụng (employ) và giải thích 5 (explain) toán học trong nhiều ngữ cảnh. Nó bao gồm suy luận toán học và sử dụng các khái niệm, phương pháp công cụ toán học để mô tả, giải thích và dự đoán các hiện tượng. Nó giúp con người nhận ra vai trò của toán học trên thế giới và đưa ra phán đoán, quyết định của công dân biết góp ý, tham gia và suy ngẫm”.
Hơn nữa, năng lực môn toán còn thể hiện ở việc sử dụng thành thạo và linh hoạt các công cụ và phương tiện học toán, đặc biệt là các phương tiện khoa học công nghệ để tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn đề toán học. Năng lực toán học Môn Toán góp phần hình thành và phát triển cho HS năng lực Toán học bao gồm năm thành phần: Năng lực tư duy và lập luận Toán học; NL MHHTH; Năng lực giải quyết vấn đề Toán học; Năng lực giao tiếp Toán học; Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện Toán học. Tư duy, lập luận Toán học Mô hình Giải quyết hóa Toán vấn đề học Toán học Năng lực Toán học Sử dụng công cụ, Giao tiếp phương Toán học tiện Toán học Hình 1. Các năng lực Toán học 1.
Năng lực tư duy, lập luận Toán học Năng lực tư duy, lập luận toán học là năng lực được hình thành khi chúng ta đặt các câu hỏi đặc trưng như “có hay không.?, nếu như vậy, có bao 6 nhiêu?.” và biết câu trả lời để có thể giải đáp được những câu hỏi như vậy. Các thao tác tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, tương tự, quy nạp, diễn dịch, đặc biệt hóa, khái quát hóa được do chính HS thực hiện. Việc chỉ ra được chứng cứ, lý lẽ và biết lập luận hợp lý trước khi đưa ra kết luận. Từ đây các em giải thích hoặc điều chỉnh được cách thức giải quyết vấn đề về phương diện toán học nói chung và các vấn đề trong cuộc sống nói riêng.
Năng lực giải quyết vấn đề Toán học Năng lực giải quyết vấn đề Toán học yêu cầu HS cần xác định được vấn đề và giải quyết theo nhiều cách khác nhau ở nhiều dạng bài toán. Để làm được điều đó một cách tốt nhất, trước tiên HS cần lập kế hoạch để giải quyết vấn đề, thực hiện kế hoạch độc lập, sáng tạo, hợp tác dựa trên các giả thuyết đã đề ra. Trong chương trình GDPT mới, khi học môn Toán, HS sẽ được hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học từ trên sách vở đến thực tế đời sống. Năng lực giao tiếp Toán học Năng lực giao tiếp toán học là khả năng bộc lộ về bản thân trong các vấn đề của toán học, hiểu được vấn đề qua những mệnh đề được nói hay được viết bởi những người khác.
Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện Toán học Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện Toán học là khả năng sử dụng phương tiện hỗ trợ gồm nhiều loại khác nhau để có thể giúp cho hoạt động toán diễn ra tốt hơn. Việc sử dụng những công cụ, phương tiện phục vụ cho việc học Toán ngày nay đã rất phổ biến. Từ những chiếc máy tính bỏ túi đơn giản đến các dòng máy có sự cải tiến cao hơn, thông minh hơn như: Casio FX 570VN Plus, Casio FX 580 VNX,… 7 Mỗi loại máy sẽ có những ưu nhược điểm riêng và tùy vào từng mục đích sử dụng cũng như nhu cầu, HS cần lựa chọn loại máy phù hợp với bản thân mình để hỗ trợ cho việc học một cách tốt nhất. Năng lực mô hình hóa Toán học (i) Khái niệm Năng lực mô hình hóa toán học là năng lực gắn liền với cấu trúc mô hình hóa, tức là chuyển đổi tình huống “thực tiễn” dưới dạng toán học, xây dựng mô hình toán học từ các tình huống thực tiễn dựa trên các công cụ toán học; giải thích các mô hình toán học theo nghĩa “thực tế”.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực mô hình hóa, theo Blum và Jensen (2007) thì “NL MHH là khả năng thực hiện đầy đủ các giai đoạn của quá trình mô hình hóa trong một tình huống cho trước” [19]. NL MHHTH là khả năng thực hiện đầy đủ các giai đoạn của quy trình MHH trong dạy học Toán nhằm giải quyết các vấn đề Toán học được đặt ra. Các thành tố của NL MHHTH bao gồm: (1) Đơn giản giả thuyết; (2) Làm rõ mục tiêu; (3) Thiết lập vấn đề; (4) Xác định biến, tham số, hằng số; (5) Thiết lập mệnh đề Toán học; (6) Lựa chọn mô hình; (7) Biểu diễn mô hình thích hợp; (8) Liên hệ lại vấn đề trong thực tiễn. (ii) Biểu hiện của NL MHHTH Các thành tố của năng lực toán học hóa tình huống thực tiễn của học sinh trung học phổ thông bao gồm: [12] Năng lực thu nhận thông tin toán học từ tình huống thực tiễn: Khả năng quan sát tình huống thực tiễn; Khả năng tưởng tượng, chuyển đổi các ý tưởng 8 từ thực tiễn thành các yếu tố toán học; Khả năng ước lượng, dự đoán các kết quả có thể xảy ra của tình huống.
Năng lực định hướng đến các yếu tố trung tâm của tình huống: Khả năng xác định yếu tố trọng tâm của tình huống; Khả năng thiết lập mối quan hệ giữa các yếu tố, đánh giá mức độ phụ thuộc của các yêu tố; Khả năng loại bỏ những gì không bản chất; Khả năng nêu ra bài toán có nội dung thực tiễn. Năng lực sử dụng ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ toán học: Khả năng sử dụng ngôn ngữ tự nhiên ngắn gọn, chính xác để diễn đạt các tình huống; Khả năng sử dụng ngôn ngữ toán học để chuyển đổi các bài toán thực tiễn sang dạng toán học và giải bài toán đó. Năng lực xây dựng mô hình toán học: Khả năng phát hiện ra yếu tố trọng tâm của tình huống thực tiễn; Khả năng biểu diễn các đại lượng thực tế bằng ngôn ngữ toán học; Khả năng biểu đạt các mối quan hệ giữa các đại lượng bằng các mệnh đề toán học, các biểu thức chứa biến, đồ thị, biểu đồ,.; Khả năng khái quát hóa các tình huống thực tiễn theo quan điểm của toán học. Năng lực làm việc với mô hình toán học: Khả năng giải toán trên mô hình, dựa vào lời giải bài toán nêu ra được kết quả của mô hình; Khả năng biến đổi mô hình toán học theo ý cá nhân; Khả năng dùng mô hình phán đoán tình huống thực tiễn.
Năng lực kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh mô hình: Khả năng kiểm tra, đối chiếu kết quả; Khả năng phê phán, phát hiện giới hạn của mô hình; Khả năng vận dụng suy luận có lý vào việc đưa ra các mô hình toán cho tình huống thực tiễn và biết so sánh tìm ra mô hình hợp lý hơn (để điều chỉnh mô hình toán học). Theo chương trình giáo dục phổ thông môn Toán năm 2018, năng lực mô hình hóa được thể hiện qua việc xác định được mô hình toán học (gồm công thức, phương trình, bảng biểu, đồ thị,…) cho tình huống xuất hiện trong bài 9 toán thực tiễn; giải quyết được những vấn đề toán học trong mô hình được thiết lập; thể hiện và đánh giá được lời giải trong ngữ cảnh thực tế và cải tiến. [2] Năng lực mô hình hóa là khả năng “phiên dịch” các đặc điểm, mối quan hệ, giả thuyết có trong tình huống thực tiễn sang bài toán, hiểu và kiểm chứng lời giải của bài toán, cũng như khả năng phân tích và so sánh những mô hình đã có bằng cách kiểm tra những giả thuyết đã có, các đặc điểm của mô hình. Tóm lại, năng lực mô hình hóa là khả năng biểu diễn quá tình huống thực tiễn bằng cách xây dựng và kiểm chứng mô hình toán học.
Như ta đã biết, không có năng lực nào là siêu nhiên, toàn năng, do vậy, muốn giải quyết nhiệm vụ và các vấn đề thực tiễn, HS cần phải vận dụng các kĩ năng khác như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng hoạt động nhóm để hiện thực hóa mô hình hóa. GV cần trang bị đủ kiến thức và kĩ năng để hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động mô hình hóa. GV đóng vai trò là người điều phối, hỗ trợ tư vấn hơn là người giảng dạy theo cách truyền thống. Do đó, năng lực quản lý lớp học của GV cũng rất là quan trọng và cần thiết.
GV cần đưa ra những tiêu chí, yêu cầu hoàn thành và hỗ trợ HS trong quá trình thực hiện mô hình hóa. Tình huống phải phù hợp với trình độ của HS, phải kích thích sự tò mò của HS và HS có thể sử dụng những kiến thức toán học đã biết để giải quyết vấn đề của tình huống.