mở đầu về Đại số Theo Reisz.D (2003, tr198), có ba chiến lược dạy học Đại số sau đây ở trường THCS, trong đó tác giả xem hai chiến lược đầu là các chiến lược cực đoan: - Chiến lược 1: không nói gì về Đại số và phép tính trên chữ, vì người ta cho rằng các phương pháp này không hiệu quả đối với hầu hết HS và lĩnh vực các vấn đề mà chúng thực sự hữu ích là quá hạn chế. - Chiến lược 2: đề xuất đi ngay và nhanh vào phép tính Đại số, ngay cả khi chẳng biết dùng chúng để làm gì, với hy vọng rằng một khi đã nắm được công cụ Đại số, HS sẽ hiểu được tính hữu dụng và hiệu quả về sau của nó. - Chiến lược thứ 3 (thể hiện trong chương trình mới ở Pháp): cùng lúc đưa vào phép toán trên chữ và dùng nó để giải quyết các vấn đề trong đó phép toán trên chữ đóng một vai trò quan trọng. Cụ thể: + Ở lớp 6 và 7: bắt đầu vào việc dùng chữ cùng với lí do đưa chữ vào.
+ Ở lớp 8 và 9: Bắt đầu giải các bài toán bằng phương pháp Đại số và kĩ thuật tính toán trên chữ. Bednarz, Kieran et Lee (1996), dẫn theo Coppé.8), phân loại ba cách tiếp cận Đại số với mục tiêu cho “nghĩa” cho các đối tượng mới của Đại số trong mối quan hệ với sự nảy sinh của chúng và việc triển khai hệ thống quy tắc về các dấu Đại số: Tiếp cận tổng quát hóa/lặp lại; Tiếp cận qua giải quyết các bài toán/lập phương trình (bằng mô hình hóa) và Tiếp cận công nghệ/chức năng (thông qua các phần mềm). 7 Như đã làm rõ ở trên, trong Số học “cái chưa biết” này chưa được biểu thị bằng “kí hiệu chữ” mà bằng ngôn ngữ thông thường gắn với từng ngữ cảnh cụ thể như: số kẹo, số quả cam,… 15 - Tiếp cận tổng quát hóa/lặp lại: Theo tiếp cận này, người ta đưa HS vào các hoạt động tiền Đại số thông qua việc nhận biết một "mô hình" hình học đối với các hoạt động Đại số. Một trong những mục tiêu của phương pháp này là làm nảy sinh các chữ cái dưới dạng số tổng quát và dẫn học sinh vào việc sử dụng kí hiệu để tạo ra các biểu thức tổng quát nhằm khái quát hóa các tính chất bằng cách chỉ ra hạn chế của phạm vi số.
Hoạt động khái quát này cho phép nối khớp các biểu đạt khác nhau (biểu đạt hình học, chữ viết số, chữ viết Đại số) và đưa vào một hệ thống qui tắc về dấu. - Tiếp cận qua giải quyết các bài toán/lập phương trình: Cách tiếp cận này hướng học sinh vào việc sử dụng kí hiệu Đại số để mô tả mối quan hệ giữa các biến trong một tình huống giải quyết vấn đề; cho phép HS tiếp cận cấu trúc của các biểu thức Đại số, các quy tắc tính toán trên các biểu thức và dấu “bằng” như một quan hệ tương đương. Từ đó, làm nảy sinh ở HS suy luận Đại số, như là sự đối lập với suy luận Số học. Ví dụ (được cho bởi Coppé.B, 2014, tr10): “Bài toán: Hai học sinh, Alice và Bertrand, mỗi người có một máy tính cầm tay.
Họ hiển thị cùng một số trên máy của mình. Alice nhân số được hiển thị với 3 sau đó cộng 4 vào kết quả thu được. Bertrand nhân số được hiển thị với 2 sau đó cộng 7 vào kết quả thu được. Khi kết thúc, họ thấy rằng máy của cả hai hiển thị cùng một kết quả.
Số nào họ đã hiển thị ban đầu trên máy tính?” Coppé.B (2014, tr10), nếu bài toán là: "Tôi nghĩ một con số, tôi nhân nó với 3. Lấy kết quả thu được trừ đi 12, tôi nhận được 7. Tôi đã nghĩ số nào?” thì HS vẫn giải được nó bằng suy luận Số học. Còn với bài toán đặt ra ở trên, HS khó có thể áp dụng suy luận Số học quen thuộc.
Nói cách khác, nó cho phép HS nhận ra hạn chế của suy luận Số học và tiếp cận suy luận Đại số. - Tiếp cận công nghệ/chức năng: Tiếp cận này cho phép giáo viên khai thác khả năng của công nghệ phần mềm, đặc biệt là bảng tính để hỗ trợ HS thực hiện quá trình chuyển đổi Số học/Đại số, 16 theo ba cấp độ: chuyển từ số và lời nói đến cách viết kí hiệu, chuyển từ cụ thể đến tổng quát, chuyển từ cái đã biết đến ẩn. Bình luận: Reisz.D (2003) không mô tả rõ ràng vể chiến lược thứ nhất trong phân loại đầu tiên. Theo chúng tôi, có lẽ đó là quan điểm xem Đại số như là Số học kéo dài và nó gần tương tự với tiếp cận “Tổng quát hóa/lặp lại” trong phân loại của Bednarz, Kieran et Lee (1996).
Lưới tham chiếu làm cơ sở cho nghiên cứu trong các chương sau của luận văn Các chương tiếp theo của luận văn sẽ được thực hiện theo các định hướng sau: a) Việc nghiên cứu mối quan hệ thể chế với đối tượng chữ ở bước chuyển từ Số học sang Đại số (lớp 6 sang lớp 7) ở Chương 2, sẽ dựa trên các tiêu chí (khía cạnh) chủ yếu sau: - Các chức năng của đối tượng chữ, cũng như ngữ cảnh, tình huống gắn với sự xuất hiện của chữ với từng chức năng cụ thể. - Chiến lược (hay cách tiếp cận) Đại số: chiến lược nào thể hiện trong chương trình và SGK? - Sự nối khớp và ngắt quãng giữa Số học và Đại số: về chức năng của chữ, về suy luận Số học và Đại số. b) Việc thiết kế tình huống và triển khai thực nghiệm kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu (trong Chương 3) sẽ tham chiếu đồng thời vào: + Các nội dung nêu ở mục a; + Các kết quả đã có trong một số nghiên cứu đã nêu ở trên về khó khăn, sai lầm, cách hiểu của HS về đối tượng chữ. 17 Tiểu kết chương 1 Trong chương 1, chúng tôi đã tiến hành phân tích và tổng hợp các tài liệu, công trình đã biết liên quan tới các đặc trưng của đối tượng chữ, từ đó đưa ra lưới tham chiếu làm cơ sở cho các nghiên cứu ở các chương sau: - Đối tượng chữ tiến triển qua 3 giai đoạn: Đại số hùng biện, Đại số rút âm từ và Đại số kí hiệu.
+ Giai đoạn Đại số hùng biện: đặc trưng bởi việc sử dụng ngôn ngữ thông thường để giải quyết một số bài toán đặt biệt, trong lời giải bài toán không có bất kỳ một sự viết tắt hay ký hiệu nào cả. + Giai đoạn Đại số rút âm từ: sử dụng cách viết tắt cho một số phép toán, đại lượng, và các quan hệ đuợc sử dụng thường xuyên hơn. + Giai đoạn Đại số kí hiệu: Ở giai đoạn đầu của Đại số kí hiệu, các kí hiệu chưa hoàn chỉnh, mỗi khi làm các phép tính cộng, nhân người ta lại đưa vào một kí hiệu chữ mới để chỉ tổng, tích. Sau đó đã có sự đổi mới trong việc viết các chữ, đổi mới quan trọng nhất là dùng các chữ in hoa A, B, C,… Tiêu biểu nhất là đến năm 1637, nhà bác học Pháp Descartes.R đã kí hiệu các ẩn số, biến số bằng các chữ cái la tinh cuối cùng x, y, z và các đại lượng đã cho tùy ý bằng các chữ cái đầu a, b, c để chỉ các đại lượng chưa biết (ẩn số) trong phương trình nhiều ẩn,… Các kí hiệu của Descartes được sử dụng rộng rãi do có ưu điểm hơn hẳn các kí hiệu trước kia.
- Chữ giữ nhiều chức năng khác nhau: Trong Số học chữ mang một chức năng duy nhất là dán nhãn; Trong Đại số chữ mang chức năng là biến, là số tổng quát, là ẩn, là tham số,… Việc chuyển từ quan niệm chữ như một sự “dán nhãn” trong Số học và không được thực hiện phép tính trên các nhãn này sang chữ với các chức năng khác trong Đại số và có thể tính toán trên chữ, tạo nên chướng ngại ở HS. - Có nhiều chiến lược dạy học mở đầu về Đại số: + Theo Reisz.D (2003, tr198), có ba chiến lược dạy học Đại số: Chiến lược 1: không nói gì về Đại số và phép tính trên chữ; Chiến lược 2: đề xuất đi ngay và nhanh vào phép tính Đại số; Chiến lược 3: cùng lúc đưa vào phép toán trên chữ và dùng nó để giải quyết các vấn đề. 18 + Theo Bednarz, Kieran et Lee (1996), cũng có 3 cách tiếp cận Đại số: Tiếp cận tổng quát hóa/lặp lại; Tiếp cận qua giải quyết các bài toán/lập phương trình (bằng mô hình hóa) và Tiếp cận công nghệ/chức năng (thông qua các phần mềm). - Cuối cùng, chúng tôi xây dựng lưới tham chiếu cho nghiên cứu đối tượng chữ ở các chương sau của luận văn: + Chương 2 nghiên cứu đối tượng chữ trong thể chế dựa trên các tiêu chí: Các chức năng của đối tượng chữ, cũng như ngữ cảnh, tình huống gắn với sự xuất hiện của chữ với từng chức năng cụ thể; Chiến lược (hay cách tiếp cận) Đại số: chiến lược nào thể hiện trong chương trình và SGK?; Sự nối khớp và ngắt quãng giữa Số học và Đại số: về chức năng của chữ, về suy luận Số học và Đại số.
+ Chương 3 ngoài các tiêu chí nêu trên còn dựa vào các kết quả đã có trong một số nghiên cứu đã trình bày ở trên về những khó khăn, sai lầm, cách hiểu của HS về đối tượng chữ để thiết kế tình huống thực nghiệm dựa trên hoạt động học tập theo nhóm. NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ THỂ CHẾ VỚI ĐỐI TƯỢNG CHỮ TRONG BƯỚC CHUYỂN TỪ SỐ HỌC SANG ĐẠI SỐ BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ Mục tiêu của chương 2 là làm rõ các đặc trưng cơ bản mối quan hệ thể chế với đối tượng chữ trong bước chuyển từ số học sang đại số. Cụ thể, dựa trên định hướng của lưới tham chiếu đã chọn trong chương 1, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích SGK để trả lời cho các câu hỏi sau đây: - Chữ xuất hiện ở đâu và với chức năng gì? Trong ngữ cảnh, tình huống nào? - Thể chế Việt Nam đã chọn cách tiếp cận nào về dạy học khởi đầu Đại số? Về SGK, khi xem xét tiêu đề các chương, mục trong SGK chúng tôi nhận thấy: SGK toán 6 xếp nội dung toán vào lĩnh vực Số học, còn SGK toán 7 xếp nội dung toán 7 vào lĩnh vực Đại số. Như vậy, bước chuyển được xác định là giai đoạn từ lớp 6 sang lớp 7.
Do đó, chúng tôi giới hạn phân tích của mình vào SGK toán 6 tập 2 và toàn bộ SGK toán 7.