CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề cơ bản về năng lực 1. Khái niệm năng lực Theo thông tin từ "Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế Thế giới" (OECD) năng lực được hiểu là những khả năng được đáp ứng một cách có hiệu quả đối với những yêu cầu mang tính phức tạp trong một hoặc một số bối cảnh cụ thể [16]. Hiểu một cách đơn giản: Năng lực là khả năng sử dụng tất cả những yếu tố chủ quan mà cá nhân sẵn có hoặc được xây dựng và hình thành thông qua quá trình học tập, góp phần giải quyết các vấn đề trong học tập, trong công tác cũng như trong cuộc sống hàng ngày.
Không những vậy, năng lực còn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bởi những dấu hiệu khác nhau. Năng lực còn được xây dựng và hình thành dựa trên những cơ sở của tri thức, được thiết lập qua giá trị, cấu trúc, hình thành qua trải nghiệm và được củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí. Ở một khía cạnh khác, theo Chương trình Giáo dục Trung học bang Quesbec, Canada năm 2004 [24] năng lực được định nghĩa như sau: "Năng lực là khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực". Denyse Tremblay lại cho rằng: "Năng lực là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống"[2].Weinert: "Năng lực là tổng hợp khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải quyết" [2].
Theo cách hiểu của một số từ điển thì từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: "Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó[10]; còn từ điển Tiếng Việt lại cho rằng: "Năng lực là phẩm 10 chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao"[25]. Một cách đơn giản có thể hiểu rằng năng lực chính là sự kết hợp linh hoạt và có tổ chức những kiến thức cùng các kỹ năng và thái độ, tình cảm cũng như giá trị của cá nhân,… với mục đích được đáp ứng hiệu quả những yêu cầu phức hợp của các hoạt động trong bất kì hoàn cảnh nào. Năng lực còn thể hiện được sự vận dụng một cách tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau của con người trong cuộc sống hàng ngày. Cụ thể là những phẩm chất của người lao động, kiến thức cơ bản và những kỹ năng của bản thân được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó.
Nói cách khác, năng lực là chính là khả năng điều hành kiến thức, kĩ năng, thái độ, đồng thời vận dụng những điều đó một cách hợp lí vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Theo Lê Đức Ngọc [14] lại cho rằng năng lực là khả năng vận dụng đồng thời các kiến thức, kĩ năng, thái độ, phẩm chất mà cá nhân đã tích lũy được để xử lí các tình huống có vấn đề hay nói cách khác là để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Như vậy có thể hiểu bản chất của năng lực chính là khả năng vận dụng một cách tổng hợp những kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…vào việc thực hiện thành công một công việc trong các hoàn cảnh nhất định. Mặt khác, biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung kĩ thuật trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không tiếp thu lượng tri thức rời rạc.
Cá nhân Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn [9] đã nói về năng lực như sau: "Năng lực là tổng hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy". Cách hiểu của Đặng Thành Hưng lại nghĩ: "Năng lực là thuộc tính cá nhân, cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể." [11] 11 Như vậy, với những quan điểm của cả các cá nhân và của các tập thể được nhóm nghiên cứu tìm hiểu ở trên thì theo chúng tôi năng lực có thể hiểu đơn giản rằng nó chính là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong một điều kiện cụ thể. Cấu trúc năng lực [1],[4], [18], [26] Con người có thể tạo lên và phát triển hiệu quả được năng lực thì cần phải xác định rõ cấu trúc cũng như những thành phần cấu tạo của chúng. Trên thực tế có rất nhiều loại năng lực khác nhau, điều đó dẫn đến nhiều cách mô tả thành phần cũng như cấu trúc của năng lực.
Tuy vậy, cấu trúc chung của năng lực được mô tả bằng sự kết hợp của 4 loại năng lực thành phần: năng lực cá thể , năng lực phương pháp, năng lực chuyên môn,năng lực xã hội. Cụ thể - Năng lực cá thể (Induvidual competency): Năng lực này có khả năng xác định và đánh giá tương đối được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân. Không những vậy, năng lực cá thể còn giúp phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện những kế hoạch phát triển cá nhân. Đồng thời nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc và nó trực tiếp liên quan đến hành động tự chịu trách nhiệm của con người - Năng lực phương pháp (Methodical competency): Đối với năng lực này, nó có khả năng điều hành những hành động có kế hoạch cũng như giúp định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ có vấn đề.
Trọng tâm của năng lực phương pháp này là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày một mảng kiến thức bất kì - Năng lực chuyên môn (Professional competency): Năng lực chuyên môn là khả năng cá nhân thực hiện được các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá, phân loại những kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và mang tính chính xác cao về mặt chuyên môn. 12 - Năng lực xã hội (Social competency): Khác với các năng lực trên, năng lực xã hội chính là khả năng giúp cá nhân đạt được mục đích hiệu quả trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội. Và nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. Mô hình 4 thành phần của năng lực trên phù hợp với 4 trụ cột giáo dục theo UNESCO: Các trụ cột của giáo dục Các thành phần năng lực UNESCO Năng lực chuyên môn Học để biết Năng lực phương pháp Học để làm Năng lực xã hội Học để chung sống Năng lực cá thể Học để tự khẳng định Cấu trúc trên cho thấy rất rõ mục đích của giáo dục là việc định hướng phát tiển năng lực cho học sinh.
Không những vậy, việc giáo dục đó không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kĩ năng chuyên môn mà còn phát triển đồng thời các năng lực về phương pháp, xã hội, cá thể để giúp người học được phát triển đồng đều, không có sự lệch lạc về một năng lực nào cụ thể. Điều đó càng cho thấy rõ những năng lực trên không thể tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đặc biệt, năng lực hành động được xây dựng và hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực kể trên. Năng lực chung và năng lực toán học a.
Năng lực chung Năng lực chung được xem là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, góp phần làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như: năng lực nhận thức, trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; giao tiếp, năng lực vận động,. Tất cả các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, qua quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau.[3] Qua nghiêm cứu của nhóm cùng việc tham khảo những kinh nghiệm nghiên cứu của các nước phát triển, đồng thời đối chiếu với những mục đích, yêu cầu và điều kiện giáo dục trong nước đối với những năm sắp tới, trong luận văn này, chúng tôi đồng quan điểm cùng các nhà khoa học giáo dục Việt Nam về năng lực chung như sau: Năng lực chung Biểu hiện - Cá nhân xác định những nhiệm vụ học tập được tính đến kết quả học tập trước đây và những định hướng phấn đấu về sau của người học; đồng thời đặt ra mục tiêu chi tiết của việc học một cách cụ thể, đặc biệt tập trung hơn trong việc nâng cao những khía cạnh còn yếu kém. - Biết đánh giá và điều chỉnh được các kế hoạch học tập của bản thân; tự hình thành được các cách học tập riêng; biết cách tìm tòi các nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích và nhiệm vụ học tập khác nhau; sử dụng triệt để thư Năng lực tự học viện, lựa chọn các tài liệu và xây dựng những danh mục phù hợp với từng chủ đề học tập của các bài tập khác nhau; thường xuyên ghi chép thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung 14 khi cần thiết; tự đặt được vấn đề học tập. - Biết nhận ra lỗi sai và tự điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; biết chia sẻ những kinh nghiệm cá nhân cho người khác, đồng thời biết vận dụng chúng vào bất kì tình huống nào khác; biết vạch kế hoạch điều chỉnh cách học để nâng cao chất lượng học tập trên cơ sở các thông tin phản hồi.
- Người học cần phân tích được các tình huống trong học tập cũng như trong cuộc sống nhằm mục đích phát hiện và nêu lên được các tình huống có vấn đề trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày. Năng lực giải quyết vấn đề - Giúp cập nhật và làm rõ các thông tin có liên quan đến các tình huống có vấn đề;đưa ra những phương pháp cũng như giải pháp phù hợp nhất để giải quyết.