đặt vấn đề, tạo môi trường học tập để giúp họ tự xây dựng tri thức cho mình. Như vậy, hai thái cực của triết học dạy học đều có những quan niệm về quá trình nhận thức thế giới đa dạng theo các góc độ riêng, theo các quan niệm riêng của mình. Các góc độ này mới chỉ phản ánh được một số trong vô vàn quá trình nhận thức thế giới tự nhiên đa dạng. Nội dung của lí thuyết nhận thức Lý thuyết nhận thức ra đời vào đầu thế kỷ XX và phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ này.
Các nhà khoa học lớn đại diện của học thuyết này là các nhà tâm lí học Piaget (người áo), Vygotsky và Leontev (Liên Xô) đã xây dựng lý 13 z thuyết về sự học tập và chú trọng đến ý nghĩa của các cấu trúc quá trình nhận thức trong học tập, coi học tập là một quá trình xử lý thông tin. Nội dung cơ bản của thuyết nhận thức là: Quá trình nhận thức là một quá trình xử lý thông tin, trong đó bộ não người được coi như một hệ thống kỹ thuật có chức năng xử lý các thông tin thu nhận được. Quá trình nhận thức là một quá trình có cấu trúc xác định (cảm giác – tri giác – biểu tượng – khái niệm) và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi của chủ thể. Con người tiếp nhận các thông tin từ bên ngoài, xử lý và đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử của mình.
Trọng tâm của lý thuyết nhận thức là nghiên cứu các hoạt động trí tuệ như: - Xác định, phân tích, hệ thống hoá các sự kiện và hiện tượng. - Nhớ lại những kiến thức đã học và bổ sung những kiến thức mới. - Giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới. Như vậy, bộ não con người luôn luôn hoạt động để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống học tập và thu nhận tri thức mới.
Lý thuyết nhận thức xác định cấu trúc nhận thức của con người không phải là bẩm sinh đã có mà được hình thành qua học tập, kinh nghiệm, trải nghiệm và thực tiễn. Mỗi người có cấu trúc nhận thức riêng và quá trình hoạt động tư duy khác nhau. Vì vậy, muốn có sự thay đổi đối với quá trình nhận thức của con người thì cần có những tác động phù hợp (nội dung, phương pháp, thời gian…). Con người cũng có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức của mình như tự đặt mục tiêu, xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó.
Trong quá trình nhận thức, chủ thể cũng có thể tự quan sát, tự đánh giá, tự điều chỉnh và tự hưng phấn mà không cần có kích thích từ bên ngoài. Với những nét đặc trưng này, lý thuyết nhận thức thuộc trường phái lý thuyết chủ thể. Mô hình học tập theo lý thuyết nhận thức được mô tả như sau: 14 z Học sinh (quá trình Thông tin đầu vào nhận thức phân tích, Kết quả đầu ra (sự kiện, hiện tượng, tổng hợp, khái quát (kết quả đạt được, kiến thức…) hoá, tái tạo…) xử lý…) 1. Ứng dụng của lý thuyết nhận thức Ngày nay, lý thuyết nhận thức được thừa nhận và được ứng dụng rộng rãi trong quá trình dạy học.
Những kết quả nghiên cứu của lý thuyết này đã được vận dụng trong việc tìm ra con đường tối ưu hoá quá trình dạy học nhằm phát triển khả năng nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề, đặc biệt là phát triển tư duy. Các phương pháp, quan điểm dạy học vận dụng lý thuyết này được đặc biệt quan tâm và vận dụng một cách rộng rãi là: - Dạy học nêu và giải quyết vấn đề. - Dạy học định hướng hoạt động. - Dạy học theo phương pháp nghiên cứu.
- Dạy học khám phá. - Dạy học hợp tác theo nhóm. - Dạy học bằng câu hỏi. - Dạy học theo góc.
- Dạy học theo hợp đồng. Lý thuyết nhận thức đã được thừa nhận nhưng sự vận dụng các phương pháp dạy học theo lý thuyết này cũng có những giới hạn nhất định. Sự vận 15 z dụng những phương pháp dạy học nhằm phát triển tư duy học sinh như nêu – giải quyết vấn đề, định hướng khám phá, dạy học theo phương pháp nghiên cứu.đòi hỏi nhiều thời gian và yêu cầu cao đối với người chuẩn bị cũng như năng lực của người giáo viên. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng: Cấu trúc của quá trình tư duy trong não người không quan sát trực tiếp được mà cũng chỉ suy diễn qua kết quả tư duy nên mô hình dạy học nhằm tối ưu hoá quá trình nhận thức của học sinh cũng chỉ mang tính giả thuyết.
Tuy còn có một số nhận xét trên nhưng các phương pháp dạy học, quan điểm dạy học vận dụng lý thuyết này vẫn được xác nhận là những quan điểm, phương pháp dạy học tích cực đang được ngành giáo dục nước ta quan tâm, coi đó là những định hướng trong sự đổi mới mục tiêu, phương pháp dạy học các môn học hiện nay. Sự vận dụng lý thuyết nhận thức theo hướng dạy học tích cực Dạy học tích cực là quá trình dạy học phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. - Phương pháp dạy học tích cực là những phương pháp dạy học hướng tới việc giúp học sinh học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, chống lại thói quen học tập thụ động. Phương pháp dạy học tích cực có những dấu hiệu đặc trưng như: - Phương pháp dạy học có chú trọng tới việc tổ chức, chỉ đạo để người học trở thành chủ thể của hoạt động học tập, tự khám phá những kiến thức mà họ chưa biết.
Như vậy, giáo viên tổ chức cho học sinh học tập nắm được tri thức, kỹ năng, phương pháp học tập để họ biết hoạt động, muốn hoạt động và có nhân cách của người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo. 16 z - Phương pháp dạy học có chú trọng rèn kỹ năng, phương pháp thói quen tự học tạo cho học sinh sự hứng thú, lòng ham muốn, khát khao học tập và khơi dậy những tiềm năng ở mỗi học sinh. - Phương pháp dạy học chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động học tập hợp tác trong tập thể lớp, nhóm trao đổi, tranh luận, đánh giá qua các tương tác giáo viên - học sinh, học sinh - học sinh để có những kỹ năng hợp tác, phối hợp hoạt động trong tập thể, kỹ năng giao tiếp xã hội để thích ứng với cuộc sống của xã hội phát triển. - Phương pháp dạy học có sự sử dụng phối hợp các phương tiện trực quan (thí nghiệm, phương tiện kỹ thuật…) đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập (học theo năng lực, học theo nhu cầu) giúp học sinh tiếp cận được với các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong xã hội phát triển.
- Phương pháp dạy học có sử dụng phương pháp kiểm tra đánh giá đa dạng, khách quan tạo điều kiện để học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau, nội dung và phương pháp kiểm tra đa dạng, phong phú có sự trợ giúp của thiết bị kỹ thuật, công nghệ thông tin. Trên cơ sở các nét đặc thù của phương pháp dạy học tích cực, với sự vận dụng các phương pháp dạy học, quan điểm dạy học theo lý thuyết nhận thức, giáo viên và các nhà nghiên cứu đã chú ý đến đặc điểm, cấu trúc của các phương pháp dạy - học đều xác định: - Học tập là một quá trình tích cực và rất phức tạp. Học sinh không chỉ ghi nhớ những điều mà giáo viên nói mà còn tạo nên những hiểu biết riêng về những kiến thức mà họ thu nhận được. Như vậy, các kiến thức học được cũng được xây dựng dưới dạng các phiên bản cá nhân - mang tính chủ quan.
- Học tập là quá trình chủ động và luôn có sự nhận thức theo ý tưởng của chủ thể và họ chỉ chịu thay đổi nhận thức của mình khi được chứng minh là sai. Quá trình học tập là quá trình xây dựng những giả thuyết và phản bác 17 z giả thuyết sai, công nhận giả thuyết đúng. Đây là tiến trình làm cơ sở cho mọi sự học tập tích cực và việc học tập thành công thường diễn ra theo một quá trình xây dựng giả thuyết, kiểm nghiệm giả thuyết của riêng từng người học. Học sinh học tốt nhất là qua thực hành, trải nghiệm.
Học sinh sử dụng những ý tưởng, kỹ năng, kiến thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập một cách độc lập. Trong học tập, học sinh muốn tự mình suy xét hơn là chỉ ghi nhớ những gì giáo viên nói. Vì vậy, nên dạy bằng cách hỏi chứ không bằng cách kể, học sinh thích câu hỏi có tính kích thích tư duy hơn là câu hỏi tái hiện, trần thuật, ghi nhớ. Giáo viên nêu câu hỏi đòi hỏi mức độ tư duy cao buộc học sinh phải lập luận, dự đoán, nêu giả thuyết, đánh giá sự lựa chọn sẽ giúp học sinh tập trung, hứng thú, tích cực tư duy và phát huy tối đa khả năng học tập của mình (học sâu).
Như vậy, việc áp dụng dạy học tích cực theo quan điểm lý thuyết nhận thức mang lại những lợi ích thiết thực như: - Quá trình học tập hiệu quả - bài học sinh động hơn. - Quan hệ giữa giáo viên - học sinh, học sinh - học sinh tốt hơn. - Hoạt động học tập phong phú hơn, học sinh được hoạt động nhiều hơn. - Giáo viên có nhiều cơ hội để giúp đỡ học sinh hơn.
- Học sinh phát triển được tư duy, tính độc lập, sáng tạo. Từ đó, ta thấy những ứng dụng và phát triển của lý thuyết nhận thức trong quá trình học tập thật là phong phú và đa dạng. Một trong những ứng dụng của lý thuyết nhận thức là dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc 18 z 1. Dạy học theo hợp đồng 1.
Tiếp cận quan điểm về lý thuyết “phong cách học tập ” và “Dạy học phân hóa” [24] 1. Phong cách học tập Thuật ngữ “Phong cách học tập” thể hiện cách các cá nhân người học mong muốn nhận, xử lý và thể hiện thông tin và ý tưởng. Chẳng hạn, một số HS – SV thấy rằng việc đọc sách sẽ giúp họ hiểu rõ hơn một khái niệm mới trong khi một số khác lại thiên về diễn giải bằng miệng, qua những hình ảnh, movie cụ thể. Tương tự, con người có thể thay đổi cách họ thể hiện hiệu quả nhất những hiểu biết của mình, có thể là bằng đồ thị, lời nói hay bài viết.