Tổng quan luận án
Ung thư đại tràng là bệnh lý ác tính có tỷ lệ mắc đứng thứ năm trong các ung thư phổ biến tại Việt Nam (sau ung thư dạ dày, phổi, vú, vòm họng) và đứng hàng thứ hai trong nhóm ung thư đường tiêu hóa sau ung thư dạ dày. Tại Hoa Kỳ, ung thư đại tràng đứng đầu trong nhóm ung thư tiêu hóa với gần 100.000 ca mắc mới mỗi năm; tỷ lệ mắc bệnh tại các nước châu Âu và Bắc Mỹ cao gấp khoảng 10 lần so với các nước châu Phi. So với các khối u ác tính khác của ống tiêu hóa, ung thư đại tràng có tiên lượng khả quan hơn với tỷ lệ sống thêm 5 năm sau mổ trung bình đạt khoảng 50% tính chung cho các giai đoạn. Do đó, việc chẩn đoán sớm và can thiệp phẫu thuật triệt để đóng vai trò then chốt trong việc cải thiện thời gian sống còn của người bệnh.
Phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng đã được chứng minh có giá trị ung thư học tương đương với phẫu thuật mở truyền thống. Sự phát triển của kỹ thuật ít xâm lấn đã mở rộng sang phẫu thuật nội soi một đường mổ. Tuy nhiên, phần lớn các can thiệp nội soi một đường mổ trên thế giới sử dụng các hệ thống cổng chuyên dụng dùng một lần (như SILS port, Uni-X, Tri-port) hoặc dụng cụ nội soi uốn cong, có khớp xoay với giá thành cao. Việc triển khai kỹ thuật này bằng dụng cụ nội soi thẳng truyền thống qua một vết rạch nhỏ giúp giảm chi phí điều trị, phù hợp với điều kiện trang thiết bị y tế tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các dữ liệu theo dõi dài hạn về mặt ung thư học đối với kỹ thuật nội soi một đường mổ trong điều trị ung thư đại tràng phải vẫn cần được nghiên cứu và đánh giá đầy đủ.
Xuất phát từ thực tiễn lâm sàng tại Bệnh viện Trung ương Huế, luận án tập trung giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số đặc điểm kỹ thuật phẫu thuật nội soi một đường mổ điều trị ung thư đại tràng phải.
- Đánh giá kết quả điều trị ung thư đại tràng phải bằng phẫu thuật nội soi một đường mổ với dụng cụ nội soi thông thường và một số yếu tố liên quan với thời gian sống thêm.
Đối tượng nghiên cứu gồm 47 bệnh nhân ung thư đại tràng phải được phẫu thuật nội soi một đường mổ bằng dụng cụ thẳng truyền thống tại Bệnh viện Trung ương Huế trong giai đoạn từ tháng 8/2011 đến tháng 12/2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống các mốc lịch sử và xu hướng phát triển của phẫu thuật điều trị ung thư đại tràng phải trên thế giới và tại Việt Nam:
- Lịch sử phẫu thuật mở: Graser (1895) áp dụng cắt nửa đại tràng phải cho ung thư manh tràng; Fiedrich (1905) hoàn thiện kỹ thuật cắt nửa đại tràng phải nhằm loại bỏ triệt để hạch hồi manh tràng; Dukes (1932) đưa ra hệ thống phân loại giai đoạn dựa trên mức độ xâm lấn thành ruột; súng khâu nối tiêu hóa SPTU xuất hiện tại Nga năm 1950 tạo tiền đề cho phẫu thuật nối máy; Gallagher (1960), McKay A.T (2009) và Lopez-Basave H.N (2009) nghiên cứu can thiệp cắt đại tràng phải mở rộng kèm khối tá tụy khi u xâm lấn sâu (tỷ lệ xâm lấn 11–28%, thời gian sống thêm 3 năm đạt 53,8% và 5 năm đạt 9,2%); West N.P, Hohenberger W, Weber K (2010) chuẩn hóa kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo đại tràng kèm thắt mạch sát gốc (CME with CVL).
- Lịch sử phẫu thuật nội soi truyền thống: Wiggers (1988) nghiên cứu kỹ thuật "không chạm" (no-touch); Jacobs (1991) thực hiện ca cắt đại tràng phải nội soi đầu tiên cho ung thư manh tràng; tiếp sau đó là các công bố của Schlachta (1991), Tuech J. Tại Việt Nam, Phạm Như Hiệp và Lê Lộc (2000) triển khai cắt đại trực tràng nội soi tại Bệnh viện Trung ương Huế; Hà Văn Quyết và cộng sự (2002–2004) báo cáo 20 trường hợp tại Bệnh viện Việt Đức; Nguyễn Hoàng Bắc và cộng sự (2003) công bố 73 trường hợp tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
- Lịch sử phẫu thuật nội soi một đường mổ: Pelosi (1992) thực hiện cắt ruột thừa; Navarra (1997) cắt túi mật; Rane, King và Curcillo (2007) mở rộng sang cắt thận và cắt tử cung; Bucher và Premzi (2008) thực hiện thành công ca cắt nửa đại tràng phải nội soi một lỗ đầu tiên; Ramos-Valadez (2010), L. Boni (2010; nghiên cứu trên 36 bệnh nhân, số hạch vét trung bình $24 \pm 7$), Katsuno (2011; 31 bệnh nhân), Boezem (2011; 50 bệnh nhân), Keller D.S (2016; nghiên cứu trên 500 bệnh nhân, tỷ lệ chuyển mổ mở 6,8%). Tại Việt Nam, Dương Bá Lập và cộng sự (2014) báo cáo 22 ca phẫu thuật một vết mổ; Nguyễn Hữu Thịnh (2015) công bố luận án tiến sĩ về phẫu thuật nội soi một vết mổ trên 164 bệnh nhân ung thư đại tràng (48 ca đại tràng phải); Phạm Như Hiệp và cộng sự (2017) phân tích kỹ thuật trên 114 bệnh nhân.
- Phân loại hệ thống dụng cụ một cổng theo MacDonald E.R (2009): Gồm 4 nhóm chính: cổng SILS port (Covidien, đường mổ 15–25 mm), Tri-port/Quad-port (Olympus, đường mổ 12–20 mm), Uni-X port (dụng cụ 5 mm), và kỹ thuật đặt các trocar tiêu chuẩn thẳng hàng qua một vết rạch da đường giữa 4–6 cm.
Vị trí nghiên cứu của luận án tập trung vào việc áp dụng kỹ thuật phẫu thuật nội soi một đường mổ sử dụng hoàn toàn trocar và dụng cụ thẳng thông thường (loại có thể tái sử dụng), phân tích các khó khăn kỹ thuật thao tác, đánh giá tính an toàn phẫu thuật và theo dõi kết quả sống thêm lâu dài tại một trung tâm phẫu thuật lớn ở miền Trung Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và giải phẫu ứng dụng
Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết giải phẫu, bệnh học và ung thư học đại trực tràng chuẩn mực:
- Giải phẫu mạch máu và mạc treo: Hệ thống cấp máu từ động mạch mạc treo tràng trên gồm động mạch hồi kết tràng (cho 5 nhánh: nhánh lên, manh tràng trước, manh tràng sau, ruột thừa, và nhánh hồi tràng tạo cung vô mạch 40–50 cm), động mạch kết tràng phải và động mạch kết tràng giữa (tạo nên cung mạch Riolan).
- Hệ thống bạch huyết: Phân bố theo 4 chặng: chặng trong thành, chặng cạnh đại tràng, chặng trung gian (dọc theo các nhánh mạch máu) và chặng chính (quanh gốc động mạch mạc treo tràng trên). Luận án áp dụng hệ thống phân chia nhóm hạch đại tràng phải theo Hiệp hội Chống Ung thư Nhật Bản và tác giả Okuno K.
| Nhóm hạch |
Dẫn lưu bạch huyết |
Vị trí mã hóa |
| Nhóm 1 |
Cạnh đại tràng |
201, 211, 221 |
| Nhóm 2 |
Mạc treo đại tràng |
202, 212, 222 |
| Nhóm 3 |
Mạc treo đại tràng |
203, 213, 223 |
| Nhóm 4 |
Gốc động mạch |
214, 216 |
- Giải phẫu bệnh và phân loại giai đoạn: Áp dụng phân loại mô bệnh học WHO 1976 cho ung thư biểu mô đại tràng (adenocarcinoma, ung thư tuyến nhầy, tế bào nhẫn, tế bào nhỏ, tế bào vảy, tuyến vảy, thể tủy, không biệt hóa); xếp độ mô học theo G (G1: biệt hóa cao >95%, G2: biệt hóa vừa 50–95%, G3: biệt hóa thấp 5–50%, G4: không biệt hóa <5%); phân chia giai đoạn bệnh theo hệ thống TNM của UICC/NCCN 2019 và đối chiếu phân loại Dukes (1932).
| Giai đoạn UICC/NCCN 2019 |
T |
N |
M |
Tương đương Dukes |
| Giai đoạn 0 |
Tis |
N0 |
M0 |
- |
| Giai đoạn I |
T1, T2 |
N0 |
M0 |
Dukes A |
| Giai đoạn IIA |
T3 |
N0 |
M0 |
Dukes B |
| Giai đoạn IIB |
T4a |
N0 |
M0 |
Dukes B |
| Giai đoạn IIC |
T4b |
N0 |
M0 |
Dukes B |
| Giai đoạn IIIA |
T1–T2 / T1 |
N1 / N2a |
M0 |
Dukes C |
| Giai đoạn IIIB |
T3–T4a / T2–T3 / T1–T2 |
N1 / N2a / N2b |
M0 |
Dukes C |
| Giai đoạn IIIC |
T4a / T3–T4a / T4b |
N2a / N2b / N1–N2 |
M0 |
Dukes C |
| Giai đoạn IVA / IVB / IVC |
Bất kỳ |
Bất kỳ |
M1a / M1b / M1c |
Dukes D |
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả can thiệp lâm sàng không nhóm chứng, có theo dõi dọc và tái khám định kỳ.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư đại tràng phải; thể trạng toàn thân cho phép gây mê nội khí quản và bơm hơi ổ bụng với phân độ ASA từ 1 đến 3; được can thiệp bằng kỹ thuật nội soi một đường mổ với dụng cụ thẳng thông thường; kết quả mô bệnh học sau mổ là ung thư biểu mô tuyến; có đầy đủ dữ liệu theo dõi sau mổ.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân mắc phối hợp ung thư khác; can thiệp bằng các loại cổng một lỗ chuyên dụng (SILS, Uni-X); phát hiện ung thư giai đoạn IV trong mổ hoặc đã điều trị hóa chất trước mổ; bệnh nhân không tuân thủ tái khám định kỳ.
- Phương pháp tính cỡ mẫu: Cỡ mẫu tối thiểu được xác định theo công thức ước tính một tỷ lệ:
$$N = \frac{Z^2_{1-\alpha/2} \cdot P(1-P)}{d^2}$$
Trong đó, độ tin cậy được chọn ở mức 95% ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), sai số cho phép $d = 0,05$. Tỷ lệ biến cố chuyển mổ mở $P$ được tổng hợp từ các nghiên cứu quốc tế: Katsuno (2011) là 0%, Ross (2011) là 5%, Champagne (2012) là 2,42%, Makino (2012) trên 477 bệnh nhân là 5,9%; giá trị trung bình $P = 0,03$ (3,0%). Cỡ mẫu tối thiểu tính toán là $N \approx 45$ bệnh nhân. Mẫu thực tế thu thập gồm 47 bệnh nhân.
- Xử lý dữ liệu: Kiểm tra phân phối chuẩn của biến số tuổi cho thấy dữ liệu có dạng hình chuông đối xứng, giá trị trung bình ($\text{Mean} = 52,57$) xấp xỉ trung vị ($\text{Median} = 51,00$), hệ số bất đối xứng $\text{Skewness} = 0,393$ (nằm trong giới hạn chuẩn từ -1 đến +1). Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS; thời gian sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh được tính theo phương pháp Kaplan-Meier và so sánh bằng kiểm định Log-rank.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này trình bày toàn diện cơ sở giải phẫu định khu đại tràng phải, các mối liên quan ngoại khoa của manh tràng, đại tràng lên, góc gan (liên quan mật thiết với tá tràng đoạn DII, thận phải, đáy túi mật) và đại tràng ngang. Tác giả mô tả chi tiết đường đi của các mạch máu nuôi dưỡng, hệ thống mạch bạch huyết và cơ chế di căn ung thư theo đường bạch huyết, đường tĩnh mạch (với 8–20% tế bào ung thư đi vào tuần hoàn cửa đến gan và phổi).
Chương 1 cũng phân tích sâu các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng (định lượng kháng nguyên CEA, CA 19-9, X-quang khung đại tràng cản quang, siêu âm bụng, siêu âm nội soi EUS-FNA, CT scan đa lát cắt, MRI, PET scan) và các giải pháp điều trị phẫu thuật: phẫu thuật cắt đại tràng kèm cắt khối tá tụy, phẫu thuật cắt toàn bộ mạc treo (CME), phẫu thuật nội soi chuẩn, phẫu thuật nội soi một đường mổ, phẫu thuật qua các lỗ tự nhiên (NOTES) và phẫu thuật nội soi bằng Robot. Ngoài ra, chương này điểm lại các chỉ định hóa trị bổ trợ theo NCCN cho giai đoạn II nguy cơ cao và giai đoạn III (phác đồ FOLFOX, CapeOx, 5-FU/Leucovorin bắt đầu trong vòng 8 tuần sau mổ) cùng các yếu tố tiên lượng bệnh học (tuổi, giai đoạn TNM, độ biệt hóa tế bào, nồng độ CEA trước mổ, số lượng hạch vét được).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu tiến cứu trên 47 bệnh nhân tại Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 8/2011 đến tháng 12/2017. Tác giả mô tả cụ thể quy trình thu thập các chỉ số lâm sàng (triệu chứng cơ năng, thời gian xuất hiện bệnh, tiền sử phẫu thuật, phân loại thể trạng theo thang điểm Karnofsky KPS và ASA) và cận lâm sàng (CEA, CA 19-9, nội soi đại tràng kèm sinh thiết, CT scan bụng).
Kỹ thuật mổ được mô tả chuẩn hóa: bệnh nhân nằm ngửa, rạch da đường giữa qua rốn dài khoảng 4–6 cm, đặt 3 trocar nội soi tiêu chuẩn thẳng hàng trên cùng một đường rạch mà không cần dùng cổng chuyên dụng. Thao tác phẫu tích mạc treo đại tràng thực hiện theo hướng từ trong ra ngoài (medial-to-lateral), thắt các cuống mạch hồi kết tràng, kết tràng phải và nhánh phải kết tràng giữa sát gốc, nạo vét hạch theo phân loại D3 của Nhật Bản. Ruột được đưa ra ngoài qua vết mổ rốn để tiến hành cắt bỏ đoạn đại tràng mang khối u và tái lập lưu thông tiêu hóa bằng miệng nối cơ học hoặc khâu tay trước khi đóng bụng.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 tổng hợp các phát hiện lâm sàng, cận lâm sàng, thông số trong mổ và kết quả theo dõi sau mổ của 47 bệnh nhân:
- Đặc điểm chung và lâm sàng: Tuổi trung bình của bệnh nhân là $52,57 \pm 12,3$ tuổi (phân bố chuẩn); các triệu chứng cơ năng thường gặp gồm đau bụng âm ỉ vùng hố chậu phải/mạn sườn phải (chiếm 60–80%), rối loạn thói quen đại tiện (40–50%), đại tiện phân máu (20%), sút cân và thiếu máu mạn tính.
- Đặc điểm cận lâm sàng: Khảo sát tỷ lệ tăng nồng độ chất chỉ điểm u trước mổ (CEA >5 ng/ml và CA 19-9); hình ảnh nội soi đại tràng xác định dạng đại thể (thể sùi, thể loét, thể thâm nhiễm); CT scan bụng xác định kích thước u, mức độ xâm lấn thành ruột và hạch vùng.
- Thông số kỹ thuật phẫu thuật: Đánh giá thời gian phẫu thuật, chiều dài vết rạch da tại rốn (4–6 cm), số lượng trocar đặt thêm nếu gặp khó khăn, tỷ lệ chuyển mổ mở do u xâm lấn dính phức tạp, lượng máu mất và việc đặt dẫn lưu ổ bụng.
- Kết quả sớm sau mổ: Thời gian phục hồi nhu động ruột (trung tiện trở lại), số ngày đau sau mổ, thời gian nằm viện trung bình, các biến chứng sớm sau mổ (chảy máu, nhiễm trùng vết mổ, bục rò miệng nối).
- Kết quả giải phẫu bệnh và ung thư học: Đánh giá độ biệt hóa mô học (G1, G2, G3), chiều dài bệnh phẩm cắt bỏ, tổng số hạch vét được trung bình, số lượng hạch di căn, phân loại giai đoạn bệnh sau mổ theo hệ thống TNM/UICC.
- Kết quả theo dõi dài hạn: Tỷ lệ tái phát tại chỗ, tỷ lệ di căn xa (gan, phổi, phúc mạc); ước tính tỷ lệ sống thêm toàn bộ (OS) và sống thêm không bệnh (DFS) bằng đường cong Kaplan-Meier; phân tích mối liên quan giữa thời gian sống thêm với các yếu tố: nhóm tuổi ($\le 60$ so với $>60$), kích thước khối u, giai đoạn bệnh TNM (giai đoạn I, II, III) và mức CEA trước mổ qua kiểm định Log-rank.
Kết quả và những đóng góp mới
- Khẳng định tính khả thi của kỹ thuật: Luận án chứng minh phẫu thuật nội soi một đường mổ điều trị ung thư đại tràng phải sử dụng hoàn toàn trocar và dụng cụ thẳng thông thường là kỹ thuật an toàn, có thể thực hiện thành công mà không bắt buộc phải trang bị các cổng một lỗ chuyên dụng đắt tiền dùng một lần.
- Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật: Đã xác lập vị trí đặt 3 trocar thẳng hàng trên đường rạch rốn 4–6 cm, phối hợp nhịp nhàng các dụng cụ thẳng có chiều dài khác nhau (40 cm và 60 cm) kết hợp ống soi nội soi 5 mm để hạn chế tối đa hiện tượng va chạm dụng cụ trong quá trình phẫu tích từ trong ra ngoài và nạo vét hạch D3.
- Đảm bảo nguyên tắc ung thư học: Phẫu thuật đạt được diện cắt sạch, thu hoạch đủ số lượng hạch bạch huyết theo khuyến cáo ung thư học, phục hồi lưu thông tiêu hóa an toàn và kiểm soát tốt tai biến trong mổ.
- Đóng góp dữ liệu sống còn: Cung cấp chuỗi dữ liệu theo dõi sau mổ về tỷ lệ sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh, phân tích chi tiết ảnh hưởng của giai đoạn bệnh và nồng độ CEA huyết thanh trước mổ đối với tiên lượng của bệnh nhân ung thư đại tràng phải được can thiệp bằng kỹ thuật một đường mổ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Nghiên cứu được tiến hành tại một trung tâm đơn lẻ (Bệnh viện Trung ương Huế) với cỡ mẫu 47 bệnh nhân; thiết kế can thiệp lâm sàng không có nhóm đối chứng song song ngẫu nhiên (chỉ đối chiếu với các số liệu y văn).
- Kỹ thuật thao tác nội soi một đường mổ gặp các khó khăn cố hữu: hiện tượng va chạm và xung đột dụng cụ (instrument clashing), mất nguyên tắc tam giác phẫu thuật, góc nhìn thẳng làm giảm khả năng cảm nhận chiều sâu, khó khăn bộc lộ ở những bệnh nhân có thể trạng quá béo hoặc thành bụng dày.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) đa trung tâm so sánh trực tiếp phẫu thuật nội soi một đường mổ với phẫu thuật nội soi đa cổng truyền thống và phẫu thuật robot.
- Nghiên cứu ứng dụng thêm các thiết bị hỗ trợ quang học (camera uốn cong) hoặc dụng cụ nội soi có khớp xoay nhằm giảm bớt xung đột thao tác trên những vị trí giải phẫu khó quanh động mạch kết tràng giữa và góc gan.
Giá trị tham khảo
- Đối với phẫu thuật viên Ngoại Tiêu hóa và Ung bướu: Cung cấp hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về cách bố trí kíp mổ, kỹ thuật rạch da tại rốn, cách sắp xếp trocar thẳng hàng và trình tự phẫu tích giải phẫu từ trong ra ngoài nhằm thắt mạch sát gốc và vét hạch triệt để.
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu can thiệp ngoại khoa, cách tính toán cỡ mẫu dựa trên tỷ lệ biến cố phẫu thuật từ y văn, cách kiểm tra phân phối chuẩn của số liệu và phương pháp phân tích sống còn Kaplan-Meier.
- Đối với các nhà quản lý y tế: Cung cấp cơ sở thực tiễn về việc ứng dụng dụng cụ phẫu thuật nội soi sẵn có để triển khai kỹ thuật ít xâm lấn, giúp tối ưu hóa chi phí điều trị cho bệnh nhân và cơ sở y tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Kỹ thuật phẫu thuật nội soi một đường mổ trong luận án sử dụng loại dụng cụ nào?
Nghiên cứu sử dụng các trocar và dụng cụ phẫu thuật nội soi thẳng thông thường (loại dùng nhiều lần), được đặt thẳng hàng qua một vết rạch da duy nhất dài 4–6 cm tại đường trắng giữa trên và dưới rốn, không sử dụng các cổng một lỗ chuyên dụng dùng một lần (như SILS port hay Uni-X port).
2. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định như thế nào?
Cỡ mẫu tối thiểu được tính theo công thức ước tính một tỷ lệ với độ tin cậy 95% ($Z = 1,96$), sai số $d = 0,05$ và tỷ lệ chuyển mổ mở $P = 3,0%$ (trung bình từ các nghiên cứu quốc tế của Katsuno, Ross, Champagne, Makino từ 0% đến 5,9%), cho ra cỡ mẫu lý thuyết là $N \approx 45$ bệnh nhân. Nghiên cứu thực tế thu thập 47 bệnh nhân.
3. Khó khăn kỹ thuật lớn nhất khi thực hiện phẫu thuật nội soi một đường mổ là gì?
Khó khăn lớn nhất là hiện tượng va chạm, xung đột giữa các dụng cụ thao tác và ống soi camera do đặt song song trong cùng một vết mổ nhỏ, làm mất nguyên tắc tam giác phẫu thuật và giảm cảm nhận chiều sâu phẫu trường.
4. Khảo sát giải phẫu hạch bạch huyết trong luận án dựa trên hệ thống phân loại nào?
Hệ thống hạch đại tràng phải được phân tích theo 4 chặng theo phân loại của Hiệp hội Chống Ung thư Nhật Bản và tác giả Okuno K, mã hóa thành các nhóm hạch cạnh đại tràng (201, 211, 221), nhóm hạch mạc treo (202, 212, 222; 203, 213, 223) và nhóm hạch quanh gốc động mạch mạc treo tràng trên (214, 216).
5. Luận án sử dụng những công cụ thống kê nào để đánh giá thời gian sống thêm?
Luận án sử dụng phương pháp Kaplan-Meier để ước tính đường cong xác suất sống thêm tích lũy (sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh) và dùng kiểm định Log-rank để so sánh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi, kích thước u, nồng độ CEA trước mổ và giai đoạn bệnh TNM.
Kết luận
Luận án đã tổng kết và chuẩn hóa quy trình ứng dụng phẫu thuật nội soi một đường mổ sử dụng dụng cụ thẳng thông thường trong điều trị ung thư đại tràng phải trên 47 bệnh nhân tại Bệnh viện Trung ương Huế. Kỹ thuật này bảo đảm đầy đủ các nguyên tắc căn bản của phẫu thuật ung thư học về diện cắt, nạo vét mạc treo và hạch bạch huyết tương đương phẫu thuật nội soi đa cổng nhưng giảm thiểu số lượng vết mổ trên thành bụng. Các dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích sống còn bằng phương pháp Kaplan-Meier trong luận án là cơ sở khoa học giá trị cho việc mở rộng chỉ định và tối ưu hóa điều trị ngoại khoa ung thư đại trực tràng tại Việt Nam.