phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chƣơng 2: Một số biện pháp nhằm phát triển tƣ duy sáng tạo thông qua dạy học giải toán chủ đề “Nguyên hàm - Tích phân” lớp 12 Trung học phổ thông. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm tư duy Trong thế giới hiện thực có rất nhiều cái mà con ngƣời chúng ta chƣa biết, chƣa nhận thức đƣợc. Nhiệm vụ của cuộc sống luôn luôn đòi hỏi con ngƣời phải thấu hiểu những cái chƣa biết đó, phải vạch đƣợc ra bản chất cũng nhƣ quy luật hoạt động của chúng. Quá trình nhận thức nhƣ vậy gọi là tƣ duy.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tƣ duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu và bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những những hình thức nhƣ biểu tƣợng, khái niệm, phán đoán, suy lý”[23, tr. Tác giả Trần Thúc Trình đã định nghĩa về tƣ duy trong cuốn “Rèn luyện tƣ duy trong dạy học Toán” nhƣ sau: “Tƣ duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tƣợng mà trƣớc đó chủ thể chƣa biết” [20, tr. Theo quan niệm của tâm lý học, tƣ duy là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao - bộ não ngƣời. Tƣ duy phản ánh thế giới vật chất dƣới dạng các loại hình ảnh lý tƣởng: “Tƣ duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng trong hiện thực khách quan mà trƣớc đó ta chƣa biết” [22, tr.
Quá trình phản ánh này là quá trình đƣợc thực hiện một cách gián tiếp, độc lập với nhau và mang tính khái quát, nó đƣợc nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự nhận thức cảm tính nhƣng vƣợt xa giới hạn của nhận thức cảm tính. Từ những phân tích một số quan điểm về tƣ duy ở trên, ta có thể hiểu trƣớc tiên tƣ duy nó là sản phẩm cao nhất của vật chất đƣợc tổ chức một cách đặc biệt là hệ thống thần kinh cao cấp, nó không chỉ gặp với bộ não của từng ngƣời mà nó còn gắn liền với sự tiến hóa của xã hội và trở thành sản phẩm có tính xã hội đồng thời vẫn duy trì đƣợc tính cá thể của mỗi ngƣời nhất định. Bên cạnh đó nó còn là quá trình phản ánh tích cực thế giới quan dƣới dạng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các khái niệm, phán đoán, suy luận của sự vật, hiện tƣợng trong hiện thực khách quan mà trƣớc đó chƣa biết. Nhƣ vậy, tƣ duy có tác dụng rất lớn đối với đời sống xã hội của con ngƣời.
Mỗi ngƣời chúng ta đều có thể dựa vào tƣ duy để nhận thức đƣợc các quy luật của thế giới tự nhiên, xã hội đồng thời lợi dụng nó trong hoạt động thực tiễn, quá trình lao động sáng tạo của mình. Các đặc điểm cơ bản của tư duy Tƣ duy với tƣ cách là một mức độ của hoạt động nhận thức khi đó có những đặc điểm sau: Tính có vấn đề của tƣ duy Tính gián tiếp của tƣ duy Tính trừu tƣợng hóa và tính khái quát hóa của tƣ duy Tính chất lý tính của tƣ duy Tƣ duy của con ngƣời gắn liền với ngôn ngữ Tƣ duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính Từ những đặc điểm cơ bản trên của tƣ duy ta có thể hiểu tƣ duy là sản phẩm của sự phát triển lịch sử - xã hội, nó mang bản chất xã hội. Và cũng từ những đặc điểm này ta rút ra đƣợc những một số yếu tố quan trọng trong quá trình dạy học nhƣ sau: - Trƣớc tiên giáo viên cần phải coi trọng việc phát triển tƣ duy cho học sinh. Bởi vì nếu một học sinh không có khả năng tƣ duy thì học sinh đó không có hiểu biết do vậy không học tập và rèn luyện bản thân đƣợc.
- Muốn kích thích học sinh tƣ duy đầu tiên phải đƣa học sinh vào những tình huống có vấn đề tạo sự tò mò cho học sinh mong muốn giải quyết nó và sau đó tổ chức cho học sinh tƣ duy độc lập, sáng tạo giải quyết tình huống có vấn đề. - Việc phát triển tƣ duy phải đƣợc tiến hành song song giữa quan sát tìm hiểu thực tế và rèn luyện cảm giác, năng lực trí nhớ. thông qua việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com truyền thụ tri thức. Mọi tri thức đều mang tính khái quát, nếu không tƣ duy thì không thực sự tiếp thu, đồng thời không vận dụng đƣợc tri thức đó.
- Việc phát triển tƣ duy phải gắn với việc trau dồi ngôn ngữ, bởi vì ngôn ngữ là cái vỏ để thể hiện tƣ duy. Từ đó mới biểu đạt đƣợc tƣ duy của bản thân cũng nhƣ lĩnh hội tƣ duy của đối tƣợng khác. - Tăng cƣờng khả năng trừu tƣợng hóa và khái quát hóa trong suy nghĩ của học sinh. - Việc phát triển tƣ duy phải gắn liền với việc rèn luyện cảm giác, tri giác, năng lực quan sát và trí nhớ bởi vì thiếu những tài liệu cảm tính thì tƣ duy không thể diễn ra đƣợc.
- Để phát triển tƣ duy không còn cách nào khác là thƣờng xuyên tham gia các hoạt động nhận thức, các mối quan hệ giao tiếp và thực tiễn xã hội. Qua đó tƣ duy của con ngƣời sẽ không ngừng đƣợc nâng cao. Các giai đoạn hoạt động của tư duy Giai đoạn 1: Xác định đƣợc vấn đề, diễn đạt nó thành các câu hỏi cần giải đáp. Tức là đi tìm các câu hỏi tạo thành nhiệm vụ của tƣ duy.
Giai đoạn 2: Huy động các tri thức, kinh nghiệm có liên quan, những liên tƣởng nhất định của bản thân chủ thể đến vấn đề đã đƣợc xác định. Sau đó hình thành giả thiết về cách giải quyết, cách trả lời câu hỏi. Giai đoạn 3: Xác minh giả thiết trong thực tế, sàng lọc các ý tƣởng nếu giả thiết không đúng thì chuyển sang bƣớc sau, nếu sai thì phủ định giả thiết đó và hình thành giả thiết mới. Giai đoạn 4: Đƣa ra quyết định, sử dụng, đánh giá kết quả.
Các thao tác của tư duy Quy trình tƣ duy với tƣ cách là một hành động. Xét về bản chất thì tƣ duy là một quá trình cá nhân thực hiện các thao tác trí tuệ nhất định để giải quyết nhiệm vụ hay vấn đề đặt ra. Mỗi một cá nhân đƣợc coi là có tƣ duy hay không có tƣ duy chính là ở chỗ họ có tiến hành các thao tác này ở trong đầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của mình hay không? Do vậy các thao tác trí tuệ này còn gọi là những quy luật bên trong của tƣ duy bao gồm: Phân tích Tổng hợp So sánh - Tƣơng tự Khái quát hóa - Trừu tƣợng hóa Ngoài những thao tác tƣ duy trên còn có một số thao tác tƣ duy khác là: cụ thể hóa, phân loại và hệ thống hóa. Khái niệm Theo từ điển Tiếng việt: “Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần.
Hay là tìm ra cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có” [23, tr. Nội dung của sáng tạo đƣợc hiểu cụ thể hơn bao gồm hai ý cơ bản là có tính mới (khác cái đã biết, cái cũ) và có lợi ích (giá trị hơn cái cũ). Do đó sáng tạo là hết sức cần thiết cho bất kỳ ai, bất kỳ lĩnh vực hoạt động xã hội trong cuộc sống của con ngƣời cả vật chất và tinh thần. Theo Bách khoa toàn thƣ Việt Nam: “Sáng tạo là hoạt động của con ngƣời trên cơ sở các quy luật khách quan của thực tiễn, nhằm biến đổi thế giới tự nhiên, xã hội phù hợp với mục đích và yêu cầu của con ngƣời.
Sáng tạo là hoạt động có tính đặc trƣng không lặp lại, tính độc đáo và duy nhất” [11]. Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Sáng tạo là sự vận động của tƣ duy từ những nhận thức, hiểu biết đã có cho đến những nhận thức, hiểu biết mới. Vận động đi liền với biện chứng nên tƣ duy biện chứng sẽ là trọng tâm suốt toàn quyển sách, các tƣ duy khác, nhất là tƣ duy logic cũng đóng một vai trò quan trọng. Tác giả Trần Thúc Trình đã cụ thể hóa sự sáng tạo đối với ngƣời học toán: “Đối với ngƣời học toán, có thể quan niệm sự sáng tạo đối với họ, nếu họ đƣơng đầu với những vấn đề đó, để tự mình thu nhận đƣợc cái mới mà họ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chƣa từng biết” [20].
Nhƣ vậy trong các bài tập đƣa ra cho học sinh giải thì đối với mỗi một bài tập toán cũng đƣợc xem nhƣ là mang yếu tố sáng tạo nếu các thao tác giải nó không bị những mệnh lệnh nào đó chi phối (từng phần hay hoàn toàn), điều đó có nghĩa là nếu ngƣời làm toán chƣa biết trƣớc thuật toán, phƣơng pháp để giải bài toán đó thì đầu tiên phải tiến hành tìm hiểu từng bƣớc đi chƣa biết đó. Trong nhà trƣờng phổ thông có thể chuẩn bị cho học sẵn sàng các hoạt động sáng tạo nội dung vừa trình bày. Qua các khái niệm trên ta có thể hiểu một cách ngắn gọn: “Sáng tạo là một sản phẩm của tƣ duy, nó là sự say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới về cả vật chất và tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới có ích, độc đáo mà không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có, nó cần thiết cho bất kỳ một lĩnh vực hoạt động nào của xã hội loài ngƣời”. Quá trình sáng tạo Giai đoạn chuẩn bị: là giai đoạn chủ thể chuẩn bị cho công việc, hình thành vấn đề và thử giải quyết vấn đề bằng các cách khác nhau nhƣ huy động các thông tin có ích để có thể cho lời giản cần tìm và đƣa ra những suy luận và trực giác.
Giai đoạn ấp ủ: giai đoạn đƣợc bắt đầu khi công việc giải quyết vấn đề bị ngừng lại, chỉ còn lại các hoạt động tiềm thức, các hoạt động bổ sung cho vấn đề đƣợc quan tâm. Giai đoạn bừng sáng: Giai đoạn đƣợc ấp ủ kéo dài đến khi có sự "bừng sáng" trực giác, có sự nhảy vọt về chất trong quá trình nhận thức, nó xuất hiện đột ngột và kéo theo là sự sáng tạo.