phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kí hiệu viết tắt, đề tài gồm 3 chƣơng: 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Một số biện pháp bồi dƣỡng năng lực tƣ duy sáng tạo cho học sinh phổ thông qua dạy học bài tập hình học không gian. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. Cụ thể nội dung từng phần đƣợc thể hiện nhƣ sau: 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Một số vấn đề cơ bản về tư duy 1. Khái niệm Tƣ duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính những bản chất mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tƣợng trong hiện thực khách quan ta đã biết. Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy lý”. Theo Từ điển triết học: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận,… Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp với quy luật của thực tại”.(1) Theo quan niệm của Tâm lý học: Tư duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác.
Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết. Đặc điểm cơ bản của tư duy a) Tƣ duy là sản phẩm cơ bản của bộ não con ngƣời. Khi gặp những tình huống mà vấn đề hiểu biết cũ, phƣơng pháp hành động đã biết của chúng ta không đủ giải quyết, lúc đó chúng ta rơi vào “tình huống có vấn đề”, và chúng ta phải cố vƣợt ra khỏi phạm vi những hiểu biết cũ để đi tới cái mới, hay nói cách khác chúng ta phải tƣ duy. b) Tính khái quát.
6 Tƣ duy có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật hiện tƣợng. Do đó, tƣ duy mang tính khái quát. c) Tính độc lập tƣơng đối của tƣ duy. Trong quá trình sống con ngƣời luôn giao tiếp với nhau, do đó tƣ duy của từng ngƣời vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác động biến đổi từ tƣ duy của đồng loại thông qua những hoạt động có tính vật chất.
Do đó, tƣ duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể ngƣời mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì đƣợc tính cá thể của một con ngƣời nhất định. Mặc dù đƣợc tạo thành từ kết quả hoạt động thực tiễn nhƣng tƣ duy có tính độc lập tƣơng đối.Sau khi xuất hiện, sự phát triển của tƣ duy còn chịu ảnh hƣởng của toàn bộ tri thức mà nhân loại đã tích lũy đƣợc trƣớc đó.Tƣ duy cũng chịu ảnh hƣởng, tác động của các lý thuyết, quan điểm tồn tại cùng thời với nó. Mặt khác, tƣ duy cũng có logic phát triển nội tại riêng của nó, đó là sự phản ánh đặc thù logic khách quan theo cách hiểu riêng gắn với mỗi con ngƣời. Đó chính là tính độc lập tƣơng đối của tƣ duy.
d) Mối quan hệ giữa tƣ duy và ngôn ngữ. Nhu cầu giao tiếp của con ngƣời là điều kiện cần để phát sinh ngôn ngữ. Kết quả tƣ duy đƣợc ghi lại bằng ngôn ngữ.Ngay từ khi xuất hiện, tƣ duy đã gắn liền với ngôn ngữ và đƣợc thực hiện thông qua ngôn ngữ.Vì vậy, ngôn ngữ chính là cái vỏ hình thức của tƣ duy. Ở thời kỳ sơ khai, tƣ duy đuợc hình thành thông qua hoạt động vật chất của con ngƣời và từng bƣớc đƣợc ghi lại bằng các ký hiệu từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến tập hợp, từ cụ thể đến trừu tƣợng.
Hệ thống các ký hiệu đó thông qua quá trình xã hội hóa và trở thành ngôn ngữ.Sự ra đời của ngôn ngữ đánh dấu bƣớc phát triển nhảy vọt của tƣ duy và tƣ duy cũng bắt đầu phụ thuộc vào ngôn ngữ. Ngôn ngữ với tƣ cách là hệ thống tín hiệu thứ hai trở thành công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con ngƣời với con ngƣời, phát triển cùng với nhu cầu của nền sản xuất xã hội cũng nhƣ sự xã hội hóa lao động. e) Mối quan hệ giữa tƣ duy và nhận thức. 7 Tƣ duy là kết quả của nhận thức đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhận thức.
uất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biểu tƣợng. đƣợc phản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tƣợng bên ngoài đƣợc phản ánh một cách riêng lẻ.Giai đoạn này đƣợc gọi là tƣ duy cụ thể. Ở giai đoạn sau, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động tƣ duy tiến hành các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khu biệt, quy nạp những thông tin đơn lẻ, gắn chúng vào mối liên hệ phổ biến, lọc bỏ những cái ngẫu nhiên, không căn bản của sự việc để tìm ra nội dung và bản chất của sự vật, hiện tƣợng, quy nạp nó thành những khái niệm, phạm trù, định luật. Giai đoạn này đƣợc gọi là giai đoạn tƣ duy trừu tƣợng.
Phân loại tư duy Cho đến nay, vẫn chƣa có sự thống nhất khi phân loại tƣ duy. Tuy nhiên, có hai cách phân loại tƣ duy phổ biến nhất, đó là: a) Phân loại tƣ duy theo đối tƣợng (của tƣ duy): Với cách phân loại này, ta có các loại tƣ duy sau: - Tƣ duy kinh tế. - Tƣ duy chính trị. - Tƣ duy toán học.
- Tƣ duy nghệ thuật. b) Phân loại tƣ duy theo đặc trƣng của tƣ duy: Với cách phân loại này, ta có các loại tƣ duy sau: - Tƣ duy cụ thể. - Tƣ duy trừu tƣợng. - Tƣ duy biện chứng.
- Tƣ duy sáng tạo. - Tƣ duy phê phán. Tư duy sáng tạo 1. Tư duy sáng tạo 8 “Sáng tạo” hiểu theoTừ điển tiếng Việt là tạo ra giá trị mới về vật chất và tinh thần.Tìm ra cách giải quyết mới, không bị gò bó hay phụ thuộc vào cái đã có.
Hoặc theo Đại từ điển tiếng Việt, sáng tạo là làm ra cái mới chƣa ai làm. Tìm tòi làm tốt hơn mà không bị gò bó. Theo Lecne thì có hai kiểu tƣ duy cá nhân: “Một kiểu là tư duy tái hiện hay tái tạo, kiểu kia gọi là tư duy tạo ra cái mới hay sáng tạo”. Tƣ duy sáng tạo là tƣ duy mà kết quả là tạo đƣợc một cái gì đó mới.
Tƣ duy sáng tạo dẫn đến tri thức mới về thế giới hoặc về phƣơng thức hoạt động mới. Tƣ duy sáng tạo là quá trình tìm cách nhận thức, phát hiện ra quy luật của sự vật, có ý thức luôn tìm ra cái mới để hiểu rõ hơn bản chất của sự vật, hiện tƣợng cũng nhƣ tìm ra nguyên nhân, ngăn chặn, loại bỏ cái xấu và phát triển cái tốt. Nhƣ vậy, tƣ duy sáng tạo là một thuộc tính bản chất của con ngƣời để tồn tại và phát triển những gì tốt đẹp và loại bỏ, ngăn chặn những điều có hại đối với con ngƣời. Tƣ duy sáng tạo có tính khởi đầu, sản sinh ra một sản phẩm phức tạp.
Tƣ duy sáng tạo có tính phát minh, trực giác tƣởng tƣợng và phát triển liên tục. Kiến thức trƣớc đó đƣợc tổng hợp và mở rộng để sản sinh ra những ý tƣởng mới.Và những ý tƣởng mới này chịu sự phân tích, phê phán và tính hiệu quả của chúng đƣợc xét đến trong việc giải quyết bài toán. Các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo a) Tính nhuần nhuyễn. Tính nhuần nhuyễn trong tƣ duy có thể đƣợc sử dụng một cách dễ dàng, thoải mái, một cách tự nhiên trong quá trình suy nghĩ để phát hiện và nhận thức bản chất của sự vật.
Tính nhuần nhuyễn đƣợc thể hiện ở việc vận dụng các thao tác tƣ duy đạt đến mức độ thành thạo một cách tự nhiên nhằm tạo ra một số ý tƣởng để giải quyết vấn đề, nhanh chóng đƣa ra giả thuyết, ý tƣởng mới và số ý tƣởng nghĩ ra càng nhiều thì càng có khả năng xuất hiện ý tƣởng độc đáo. 9 Mặt khác, tính nhuần nhuyễn còn đƣợc thể hiện ở chỗ khả năng tìm ra đƣợc nhiều giải pháp trên nhiều tình huống, góc độ, khía cạnh khác nhau, từ đó tìm ra đƣợc phƣơng án tối ƣu. Ví dụ: Cho tứ diện đều ABCD. M là một điểm bất kỳ trong hình tứ diện.Chứng minh rằng tổng khoảng cách từ M đến bốn mặt của hình tứ diện là một số không đổi, không phụ thuộc vào vị trí của điểm M ở trong hình tứ diện đó.
Đứng trƣớc bài toán này, tính nhuần nhuyễn của học sinh đƣợc thể hiện ở chỗ: + Liên tƣởng đến bài toán tƣơng tự trong mặt phẳng: “Cho tam giác đều ABC. M là một điểm bất kỳ trong tam giác.Chứng minh rằng tổng khoảng cách từ M đến các cạnh là một số không đổi, không phụ thuộc vào vị trí điểm M”. + Biết xét trƣờng hợp đặc biệt khi M trùng với một đỉnh của hình tứ diện để chỉ ra rằng: “Tổng khoảng cách này đúng bằng chiều cao của hình tứ diện đều”. + Hoặc đặc biệt hóa khi M G là trọng tâm của hình tứ diện đều.
b) Tính linh hoạt. Tính mềm dẻo và tính linh hoạt thể hiện khả năng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, chuyển từ đối tƣợng suy nghĩ này sang đối tƣợng suy nghĩ khác; biết thay đổi phƣơng pháp cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, không bị gò bó, rập khuôn bởi những gì đã có; kịp thời và nhanh chóng điều chỉnh hƣớng suy nghĩ khi gặp trở ngại và tìm ra hƣớng giải quyết mới cho một vấn đề. Ví dụ: Xét bài toán sau: Trong không gian với hệ tọa độ Oxyz, cho tứ diện ABCD có các đỉnh A(1;2;1), B(-2;1;3), C(0;1;3) và D(0;3;1). Viết phương trình mặt phẳng (P) đi qua điểm A, B sao cho khoảng cách từ C đến (P) bằng khoảng cách từ D đến (P).
Nhận xét: Bài toán đƣợc phát biểu khá đơn giản, tuy nhiên nếu không xem xét hết tình huống thì dễ dẫn đến kết quả bị thiếu sót. Ở đây ta thấy rằng bài toán có hai trƣờng hợp.