Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học hoá học. Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương Sắt và một số kim loại quan trọng Hoá học 12 nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Việc nghiên cứu và xác định các biện pháp hoạt động hóa người học và một số biện pháp phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học phổ thông đã được nhiều nhà nghiên cứu và giáo viên (GV) quan tâm. Một số công trình nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu đến vấn đề này như: Trần Bá Hoành, Phát triển trí sáng tạo của HS và vai trò của GV. Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 9 (1999).
Luận án Tiến sĩ của tác giả Vũ Anh Tuấn, Xây dựng hệ thống BTHH nhằm rèn luyện tư duy trong việc bồi dưỡng HS giỏi hóa học ở trường THPT, bảo vệ năm 2006 tại trường Đại học sư phạm (ĐHSP) Hà Nội. Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ngà, Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo mođun phần kiến thức sơ sở hóa học chung – chương trình THPT chuyên hóa học góp phần nâng cao năng lực tự học cho HS, bảo vệ năm 2006 tại trường ĐHSP Hà Nội. Nguyễn Huy Hòa (2007), Rèn luyện năng lực độc lập sáng tạo cho HS trong dạy học hóa học ở trường THPT thuộc tỉnh Sơn La. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục trường ĐHSP Hà Nội.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Kim Ngân, Xây dựng hệ thống bài tập trong dạy học hóa học hữu cơ lớp 11 chuyên hóa theo hướng dạy học tích cực, Bảo vệ năm 2010 tại trường ĐHSP Hà Nội. Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh, Xây dựng, lựa chọn và sử dụng hệ thống BTHH vô cơ lớp 12 nâng cao theo hướng dạy học tích cực, bảo vệ năm 2010 tại trường ĐHSP Hà Nội. 6 z Nguyễn Thị Hồng Gấm (2012), Phát triển NLST cho sinh viên thông qua dạy học phẩn hóa vô cơ và lí luận – PPDH hóa học ở trường cao đẳng sư phạm, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam… Như vậy việc nghiên cứu sử dụng BTHH phần vô cơ hoá học lớp 12 THPT để phát triển năng lực sáng tạo cho HS chưa được quan tâm nghiên cứu một cách hệ thống. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học [3], [4], [5], [12], [15], [25], [36], [42], [43] 1.
Một số quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục – đào tạo; Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020. Đặc biệt Luật GD số 38/2005/QH 11 điều 28 có ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Đổi mới phương pháp dạy học chú trọng phát triển năng lực của học sinh. Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn.
Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học 7 z chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là: Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,.), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện.
Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”. Việc sử dụng PPDH gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp. Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học.
Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực.
Khái niệm phương pháp dạy học tích cực 8 z Phương pháp tích cực (PPTC), là một thuật ngữ rút gọn, để chỉ những PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Khái niệm phương pháp dạy và học tích cực là một khái niệm đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằm hướng vào việc tích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học. Trong đó, các hoạt động học tập được tổ chức và định hướng bởi GV, người học không thụ động mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình nhận thức giải quyết các vấn đề học tập, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo (NLST). Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực PPDH tích cực có những dấu hiệu đặc trưng sau: Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS.
Trong PPDH tích cực, người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa biết. Khi được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình. Từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, phương pháp thu nhận kiến thức, kĩ năng đó, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình. GV không chỉ truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động, phải giúp cho từng HS biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng.
Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học. Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học. Trong xã hội hiện đại GV phải 9 z quan tâm dạy cho HS phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc cao hơn càng phải được chú trọng. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống không chỉ của người GV mà còn có cả của HS. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung.
Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò. Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau.
Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS. Dạy học và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh [5], [9], [10], [12], [20], [23], [27], [43] 1. Khái niệm năng lực và các năng lực cần phát triển cho HS THPT 1. Khái niệm năng lực 10 z Khái niệm năng lực có nguồn gốc tiếng Latinh “Competentia” có nghĩa là gặp gỡ.
Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa: Năng lực là một thuộc tính tâm lý thức hợp, là điểm hội tu của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức. “Năng lực gồm những kĩ năng kĩ xảo học được hoạc sãn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định cũng như sự sẵn sang về động cơ, xã hội… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” (Weinert, 2001). Như vậy có thể hiểu: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như hành động”.