đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện về “TDXK của Nhà nước”, phát triển hoạt động TDXK của Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Đây được xem là khoảng trống trong nghiên cứu liên quan. Qua đó, có thể nói đề tài luận án nói trên là đề tài có tính mới, tính cấp thiết cả về phương diện khoa học và thực tiễn.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài • Hanruhiko Rakuda (2005) 10 Khi đề cập đến vai trò của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (Japan Bank for International Cooperation – JBIC) trong thương mại quốc tế, tác giả khẳng định việc JBIC cho vay xuất khẩu và cung cấp cho các nhà nhập khẩu nước ngoài cùng các tổ chức tài chính để hỗ trợ xuất khẩu tài chính của Nhật Bản, máy móc, thiết bị và công nghệ chủ yếu là cho các nước đang phát triển. Đặc biệt, các sản phẩm như tàu biển, các cơ sở sản xuất điện và các loại thiết bị nhà máy kết hợp một số lượng lớn các công nghệ tiên tiến, và xuất khẩu của họ góp phần nâng cao các cơ sở công nghệ của ngành công nghiệp Nhật Bản.
Hơn nữa, nhà máy đóng tàu và các cơ sở công nghiệp của Nhật Bản có một loạt các ngành công nghiệp hỗ trợ bao gồm doanh nghiệp nhỏ sản xuất các bộ phận và linh kiện. Cho vay xuất khẩu JBIC được kỳ vọng sẽ góp phần tích cực vào việc kinh doanh của các công ty Nhật Bản. (1962) Nghiên cứu về nguyên tắc hoạt động và chức năng của Ngân hàng Phát triển (Development Bank-DB), tác giả đã đề cập đến các chức năng tài chính, hướng dẫn đầu tư, quản lý dữ liệu … trong đó các DB của các quốc gia cần xem xét điều chỉnh chức năng tài chính và hướng dẫn đầu tư từ một nghĩa chung chung sang một nghĩa cụ thể, tùy theo quy mô của từng DB. Trong chức năng tài chính và đầu tư các dự án mang tính chất “ phát triển”, các nhiệm vụ của DB tùy thuộc vào quy mô và nguồn vốn của nó, có thể hướng đến các ngành nghề, lĩnh vực, khu vực khác nhau như xuất nhập khẩu, nông nghiệp, công nghiệp, khu vực kinh tế công, khu vực tư nhân, các loại hình doanh nghiệp với các quy mô khác nhau, trong đó lĩnh vực xuất nhập khẩu để phục vụ cho khách hàng sẽ có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu đối với các nước đang phát triển.
Các DB trong thời đại hiện nay cung cấp cấp dịch vụ tài chính cho các nhà xuất khẩu và nhập khẩu, cho vay đối với nông dân, cho vay và tài trợ cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm đang là xu hướng phát triển mới của mô hình tài chính DB thuộc sở hữu nhà nước. • Jean-Pierre Chauffour, Christian Saborowski, Ahmet I. Soylemezoglu (2010) Ban kết nối thương mại quốc tế của World Bank, trong bài viết “Should developing 11 countries establish export credit agencies?” đã có thảo luận và trao đổi một số vấn đề cần được quan tâm khi quyết định liệu một quốc gia nên thiết lập một tổ chức tài chính chuyên ngành để hỗ trợ xuất khẩu, các hình thức và cách làm cần phải có. Bài viết trình bày những nội dung chính sau đây: Một là, thảo luận về lý do tại sao bất kỳ quyết định thành lập một ECAs ( Export Credit Agencies - Tổ chức tín dụng xuất khẩu) nên chỉ được thực hiện sau khi đánh giá cẩn thận về tác động của một tổ chức như vậy trên cả hai phương diện là tài chính và lĩnh vực thực sự của nền kinh tế.
Ngoài ra, việc lựa chọn một mô hình kinh doanh bền vững cho các tổ chức tài chính chuyên ngành là rất quan trọng. Bài viết này không tìm cách cung cấp câu trả lời dứt khoát về việc liệu khi nào và như thế nào các nước đang phát triển nên thiết lập ECAs. Tuy nhiên, nghiêng về phía thận trọng trong việc thiết lập các tổ chức này trong một bối cảnh quốc gia có thu nhập thấp và nêu bật một loạt các yếu tố hoạch định chính sách cần cân nhắc khi quyết định một tổ chức như vậy. Trước khi thảo luận về các yếu tố này, chúng tôi phân tích dữ liệu từ Liên minh quốc tế về đầu tư bảo hiểm (Berne Union) vào ngành công nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, một công cụ phổ biến của tài trợ thương mại đã được minh chứng trong môi trường hiện tại.
Các dữ liệu cho thấy rằng, mặc dù khối lượng bảo hiểm tổng thể đã giảm do sự sụt giảm mạnh về lượng bảo hiểm thương mại trung hạn đến lượng bảo hiểm dài hạn đã được mở rộng trong thời khủng hoảng. Cho rằng ECAs là những cầu thủ chiếm ưu thế ở các thị trường này, hiện nay cho thấy các tổ chức tài chính chuyên “xuất khẩu tài chính” đã có được hữu ích trong việc thực hiện các hợp đồng tín dụng. Hai là, phân tích dữ liệu về bảo hiểm xuất khẩu và được cung cấp bởi các thành viên của Liên minh Berne. Nó tiếp tục thảo luận về khả năng nhận thức của ECAs hậu thuẫn công khai gây ảnh hưởng đến khối lượng bảo hiểm xuất khẩu trong thời khủng hoảng.
Ba là, thảo luận các vấn đề cần quan tâm khi quyết định liệu một quốc gia nên thiết lập một tổ chức chuyên ngành tài chính để tài trợ xuất khẩu. Bốn là, từ những ý tưởng như trên, bài viết đi đến kết luận là: Bất kỳ loại hình tổ chức tài chính nhằm mục đích đóng góp một phần trong việc tài trợ xuất khẩu có tác 12 động hai chiều. Đầu tiên, nó làm thay đổi cấu trúc của khu vực tài chính và ảnh hưởng đến hành vi của các tổ chức tài chính khác. Thứ hai, nó thay đổi khuôn khổ động trong quy mô của từng lĩnh vực kinh tế.
Kết quả của sự ảnh hưởng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, từ cơ cấu của nền kinh tế và vị thế cạnh tranh của nó đối với môi trường quản trị chung của đất nước. • Evans và Oye (2001) Chuyên gia tài chính của Ngân hàng Thế giới (World Bank) Trong bài viết về vai trò của ECAs trong việc thúc đẩy xuất khẩu, đã xác định ba luận cứ cơ bản cho vai trò của ECAs trong tài trợ xuất khẩu. Thứ nhất, ECAs có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu để bù đắp sự thua thiệt trên thị trường, khi còn thiếu vắng những yếu tố phù hợp để có thể lựa chọn giải pháp tài chính cho xuất khẩu tới các điểm đến nguy cơ rủi ro cao. Thứ hai, ECAs có thể có một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các điều khoản tín dụng cho các yếu tố ngoại phi tài chính (hiệu ứng lan tỏa kinh tế trong nước, chi phí an ninh quốc gia, yếu tố bên ngoài môi trường) phát sinh từ sự thất bại của thị trường phi tài chính trong nước.
Thứ ba, có một lý do để tiếp nhận hỗ trợ không lành mạnh của các nhà xuất khẩu nước ngoài thông qua các chính phủ tương ứng và ECAs của họ. [28] • Jef Vincent (2011) Trưởng phụ trách khu vực châu Á, Công ty Hermes (Đức) Bài viết về đề tài "Bảo hiểm TDXK của Nhà nước và bảo hiểm tín dụng thương mại" đã phân tích sự khác nhau giữa bảo hiểm tín dụng xuất khẩu có sự bảo trợ của nhà nước và bảo hiểm tín dụng thương mại không có bảo trợ của nhà nước. Sự khác nhau này thể hiện ở nhiều khía cạnh: Trước hết, cơ quan bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được nhà nước bảo trợ thông qua các ECAs với phạm vi hoạt động ở tầm quốc gia và mang tính hỗ trợ. Nhà nước chỉ bảo hiểm khi các công ty bảo hiểm với trách nhiệm của mình không thể hoặc không muốn cấp loại bảo hiểm đó.
Trong khi đó, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu thương mại trong thập niên qua chủ yếu là các tập đoàn bảo hiểm quốc tế như Euler Hermes, Coface, Atradius. Loại hình này cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cho bất kỳ rủi ro nào và theo phương thức kinh doanh thu lợi nhuận. 13 Thứ hai, các nước thuộc khối OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) có thoả thuận những nguyên tắc hướng dẫn về phạm vi bảo hiểm tín dụng xuất khẩu được nhà nước bảo trợ với thời hạn tín dụng từ 2 năm trở lên. Các nguyên tắc này nhằm tạo môi trường bình đẳng trong cạnh tranh quốc tế.
Trong khi bảo hiểm tín dụng thương mại thực hiện nghiệp vụ theo luật kinh doanh bảo hiểm. • Lee Seok Jin (2011)Trao đổi về chính sách tín dụng xuất khẩu của Chính phủ Hàn Quốc, đã nói về Công ty Bảo hiểm xuất khẩu Hàn Quốc (Korea Export Insurance Corporation- KEIC ) là Công ty bảo hiểm 100% vốn nhà nước, có nhiệm vụ sử dụng công cụ bảo hiểm tài chính để thúc đẩy xuất khẩu của Hàn Quốc thông qua việc cung cấp các dịch vụ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu như [28]: • Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngắn hạn: Áp dụng cho các giao dịch xuất khẩu có thời hạn thanh toán 2 năm. Các giao dịch giữa công ty mẹ và các chi nhánh không được tính vào phạm vi bảo hiểm tín dụng ngắn hạn. Đối với loại hợp đồng bảo hiểm cụ thể, người được bảo hiểm chọn giao dịch có liên quan trên cơ sở từng vụ việc và KEIC sẽ xem xét khả năng bảo hiểm.
Đối với loại hợp đồng bảo hiểm toàn bộ: KEIC bảo hiểm toàn bộ các giao dịch của người được bảo hiểm theo một thỏa thuận đặc biệt giữa hai bên. Cho dù số tiền bảo hiểm lớn đến mức nào, KEIC cũng đặt ra mức bồi thường tối đa và nhà xuất khẩu phải tự quản lý các rủi ro khác. • Bảo lãnh ngân hàng tín dụng xuất khẩu sau khi giao hàng: Trong trường hợp một định chế tài chính mở rộng phạm vi tài trợ xuất khẩu cho một nhà xuất khẩu với điều kiện là nhận được chứng từ vận chuyển hoặc hóa đơn xuất khẩu. KEIC hỗ trợ việc đàm phán vay nợ của người xuất khẩu, bằng cách cung cấp cho ngân hàng chứng thư bảo đảm thanh toán lại của nhà xuất khẩu.
• Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nông thủy sản: Trong trường hợp không có khả năng xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp và thuỷ sản, tình trạng không thanh toán hoặc thiệt hại do việc thực hiện trách nhiệm xuất khẩu bất chấp rủi ro về giá sau khi kết thúc hợp đồng xuất khẩu, KEIC bảo hiểm các rủi ro này cho nhà xuất khẩu. 14 • Bảo hiểm xúc tiến thị trường nước ngoài: KEIC bảo hiểm cho một sự thiệt hại khi thu nhập của nhà xuất khẩu từ các hoạt động xúc tiến ở nước ngoài không tương xứng với các chi phí bỏ ra cho các hoạt động này.