CHƯƠNG I: TỔNG QUÁT VỀ CUỘC CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI MỸ- TRUNG QUỐC 1.1 Khái quát về chiến tranh thương mại 1.1 Khái niệm về chiến tranh thương mại Trên thực tế cho đến hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào về chiến tranh thương mại. Trong một bài phỏng vấn với trang điện tử Market place (18/06/2018), nhà sử học kinh tế Doug Irwin cho rằng “Chiến tranh thương mại không phải là thuật ngữ chính thống được sử dụng bởi các nhà kinh tế học”. Do đó, dựa theo quan điểm cá nhân, các nhà kinh tế học lại có những luận giải khác nhau về chiến tranh thương mại Theo Từ điển Tiếng Anh Oxford, “Chiến tranh thương mại xảy ra khi quốc gia này gây thiệt hại về thương mại cho quốc gia khác bằng việc áp dụng thuế quan hoặc hạn ngạch”. Theo chuyên gia Manuel Perez- Rocha thuộc Viện nghiên cứu chính sách Mỹ phát biểu trên tạp chí Fortune (2018) cho rằng: “Chiến tranh thương mại là khi một quốc gia áp thuế hay những rào cản khác dành cho những sản phẩm nhập khẩu, khiến cho các quốc gia khác trả đũa bằng cách áp dụng những mức thuế hay các biện pháp trừng phạt tương tự”.
Trong khi đó, Phil Levy- cố vấn kinh tế cấp cao của chính quyền George W. Bush- trong một cuộc phỏng vấn với Vox (2018) cho rẳng: “Chiến tranh thương mại xảy ra khi không thể kiểm soát được sự leo thang của các hàng rào thương mại” Như vậy, qua các khái niệm trên, dù có sự khác nhau về từ ngữ và cách diễn đạt, cách trình bày nhưng tựu trung lại : “Chiến tranh thương mại hay còn gọi là chiến tranh mậu dịch là hiện tượng trong đó hai hay nhiều quốc gia thiết lập hoặc gia tăng các hàng rào thuế quan hoặc phi thuế quan (các quy định về kỹ thuật, vệ sinh, tiêu chuẩn sản phẩm; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; các quy định chống bán phá giá; giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, viện trợ đối với các ngành sản xuất trong nước, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, lệnh cấm vận, hạn chế 8 thương mại, …) với nhau nhằm đáp trả những rào cản thương mại của nước đối lập.2 Nguyên nhân của chiến tranh thương mại Nhìn chung, chiến tranh thương mại bắt nguồn từ xung đột lợi ích giữa hai quốc gia dẫn đến hành động áp dụng các biện pháp trừng phạt, trả đũa lẫn nhau nhằm đạt được mục tiêu mà mỗi quốc gia hướng đến. Một số những nguyên nhân thường gặp dẫn đến chiến tranh thương mại như sau: Thứ nhất, do một bên bị thâm hụt thương mại nghiêm trọng trong quan hệ thương mại song phương. Sự mất cân bằng kéo dài trong thương mại song phương được xem là một trong những nguyên nhân của chiến tranh thương mại do thâm hụt thương mại kéo theo sự suy giảm việc làm trong nước.
Hệ quả tất yếu này xảy ra do một quốc gia nhập khẩu nhiều hàng hóa từ nước ngoài dẫn đến giá cả hàng nhập khẩu giảm. Những công ty trong nước không thể sản xuất với chi phí thấp hơn để cạnh tranh khiến cho số lượng việc làm bị giảm thiểu, hàng hóa sản xuất ra ít hơn dẫn đến thâm hụt thương mại ngày càng lớn. Để ngăn chặn tác động tiêu cực kéo dài cho nước bị thâm hụt, chiến tranh thương mại là một trong những lựa chọn để cân bằng cán cân thương mại, giảm thiểu sự phụ thuộc và ngăn chặn những tác động bất lợi đến nền kinh tế của nước bị thâm hụt. Lịch sử thế giới đã chứng kiến cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Nhật Bản vào những năm đầu thập niên 1980 mà một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến này là do Tổng thống Mỹ R.
Reagan lo ngại về mức thâm hụt thương mại ngày càng lớn giữa Mỹ và Nhật Bản. Theo thống kê, Nhật Bản chiếm tới 42% thâm hụt thương mại của Mỹ trong nửa đầu thập niên 1980. Sự thâm hụt kéo dài của Mỹ với Nhật Bản dẫn đến những biện pháp thuế quan của Mỹ áp vào hàng hóa nhập khẩu từ Nhật Bản nhằm mục đích cân bằng cán cân thương mại giữa hai quốc gia. Cuộc thương chiến tiếp tục kéo dài và chỉ dừng lại khi hai bên đạt Thỏa ước Plaza vào năm 1985.
Thứ hai, do sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong thương mại quốc tế. 9 Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của hai quốc gia trong thương mại quốc tế như vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, bán phá giá,. dẫn đến yêu cầu cần sử dụng các biện pháp bảo hộ thương mại như tăng thuế, tăng các hạn chế định lượng, thắt chặt các thủ tục hải quan,… để loại bỏ sự bất bình đẳng trong kinh doanh. Cạnh tranh thương mại không lành mạnh kéo dài là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc nước bị thiệt hại lựa chọn chiến tranh thương mại như một biện pháp trả đũa nước vi phạm nhằm xây dựng lại môi trường kinh doanh công bằng cho các doanh nghiệp nước mình trong thương mại quốc tế.
Thứ ba, do xung đột lợi ích kinh tế, chính trị trên bản đồ thế giới. Xu thế mở cửa của nền kinh tế toàn cầu tạo cơ hội cho các quốc gia mở rộng mối quan hệ thương mại của mình từ đó góp phần củng cố và phát triển vị thế kinh tế, chính trị trên trường quốc tế. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của một số quốc gia lại được xem là nguy cơ suy giảm vị thế kinh tế, chính trị cho các quốc gia khác. Đứng trước nguy cơ này, những quốc gia đang duy trì vị trí dẫn đầu thường thực hiện hai bước song song đối với quốc gia đang bám sát bao gồm: củng cố sức mạnh của quốc gia mình đồng thời ngăn chặn bước tiến và tạo khoảng cách xa nhất với đối thủ cạnh tranh.
Chiến tranh thương mại cùng với các biện pháp như tăng thuế nhập khẩu, thắt chặt các quy định đối với hàng nhập khẩu, … giúp bảo vệ nền kinh tế trong nước được xem là một biện pháp giúp các quốc gia đang dẫn đầu có thể thực hiện đồng thời hai bước trên và tiếp tục khẳng định vị thế kinh tế, chính trị của quốc gia mình trên trường quốc tế. Nhìn từ lịch sử cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Nhật Bản vào những năm thập niên 1980 cho thấy xung đột lợi ích kinh tế là một trong những nguyên nhân của cuộc thương chiến giữa hai quốc gia do sự phát triển nhanh chóng của Nhật Bản trong ngành sản xuất chất bán dẫn khi vượt Mỹ trở thành nhà cung cấp chip điện tử hàng đầu thế giới. Đến năm 1985, Mỹ đã áp đặt mức thuế 100% lên các sản phẩm chất bán dẫn của Nhật Bản đồng thời đẩy mạnh nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp Mỹ trong lĩnh vực chip điện tử và công bố các quy định bảo vệ ngành. Có thể nhận thấy rõ ràng đứng trước sự phát triển nhanh chóng của Nhật Bản, những hành động của chính quyền Mỹ trong cuộc xung đột thương mại 10 nhằm bảo vệ ngành sản xuất chất bán dẫn trong nước và sử dụng thuế quan để hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp Nhật Bản trong ngành này.
Ngoài những nguyên nhân trên, chiến tranh thương mại có thể xảy ra do rất nhiều những nguyên nhân khác liên quan đến chính trị, ngoại giao, lịch sử, …phụ thuộc vào tình hình cụ thể trong mối quan hệ giữa các quốc gia.3 Biểu hiện của chiến tranh thương mại Khi chiến tranh thương mại xảy ra, hai bên đồng thời thực hiện các biện pháp trừng phạt, trả đũa lẫn nhau. Biểu hiện của chiến tranh thương mại được thể hiện thông qua các biện pháp trừng phạt mà các quốc gia thường sử dụng như sau: - Hàng rào thuế quan: Biện pháp thuế quan được thể hiện qua việc các quốc gia thiết lập hoặc tăng cường mức thuế quan xuất khẩu hoặc nhập khẩu áp vào hàng hóa của quốc gia khác. Trong chiến tranh thương mại, thuế quan được coi là công cụ để trả đũa giữa các quốc gia; giúp quốc gia áp thuế hạn chế hàng nhập khẩu, gây khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của nước bị áp thuế; bảo vệ hàng hóa trong nước và giúp các doanh nghiệp trong nước phát triển. - Hàng rào phi thuế quan: Ngoài biện pháp thuế quan, trong chiến tranh thương mại, các quốc gia còn có thể sử dụng các biện pháp phi thuế quan để trả đũa lẫn nhau bao gồm: Các biện pháp kỹ thuật (biện pháp TBT) được thể hiện qua việc các quốc gia xây dựng hoặc tăng cường các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho hàng hóa nhập khẩu và/ hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hóa nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó.
Trong xung đột thương mại, biện pháp TBT được xem là rào cản cho hàng hóa nước ngoài vào thị trường nước thiết lập, giúp bảo hộ sản xuất trong nước và đồng thời bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khỏe con người, môi trường, an ninh, … cho nước thiết lập. Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (biện pháp SBS) được thể hiện thông qua việc các quốc gia xây dựng hoặc tăng cường các yêu cầu về chất lượng, về bao bì, về quy trình đóng gói, phương tiện và cách thức vận chuyển động, thực vật, kiểm dịch, …nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người, vật nuôi, động thực vật. Trong chiến tranh thương mại, biện pháp SBS cũng được coi là công cụ gây khó 11 khăn cho hàng hóa nước ngoài thâm nhập vào thị trường nội địa đồng thời giúp bảo đảm an toàn thực phẩm và ngăn chặn sự xâm nhập của các dịch bệnh có nguồn gốc từ động thực vật cho nước thiết lập. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được thể hiện thông qua việc các quốc gia xây dựng các quy định về tiêu chuẩn bảo hộ đối với phần lớn các loại tài sản sở hữu trí tuệ như nhãn hiệu thương mại, sáng chế, quyền tác giả, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, … áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu hoặc cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nước ngoài tại thị trường nội địa.
Trong xung đột thương mại, các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ giúp các quốc gia thiết lập ngăn ngừa các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp trong nước và giúp xây dựng môi trường kinh doanh công bằng cho các doanh nghiệp nội địa trong thương mại quốc tế. Ngoài những biện pháp chủ yếu kể trên, trong xung đột thương mại còn rất nhiều các hình thức khác được các quốc gia sử dụng nhằm trả đũa lẫn nhau.