Chương 1: Lời giới thiệu Nêu lý do chọn lĩnh vực và chủ đề viết khoá luận, mục tiêu của đề tài, các phương pháp nghiên cứu và cách thức thu thập – phân tích số liệu cho đề tài, giới hạn của bài luận cũng như bố cục của bài luận. Chương 2: Cơ sở khoa học của đề tài Trình bày những cơ sở lý thuyết: các khái niệm về chiến lược và quản trị chiến lược; mô hình – các giai đoạn chiến lược và các loại chiến lược; những công cụ phân tích nhằm xác định điểm mạnh – điểm yếu, cơ hội – nguy cơ để xác định chiến lược cụ thể cho công ty. Chương 3: Giới thiệu về Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại May Sài Gòn – Phân tích môi trường bên trong – Phân tích môi trường bên ngoài Giới thiệu sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại May Sài Gòn. Giới thiệu về cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban, tình hình nhân sự của công ty cũng như kết quả về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013.
Phân tích các yếu tố nội bộ của công ty, từ đó hình thành ma trận đánh giá các yếu tố bên trong IFE để đưa ra được những điểm mạnh và điểm yếu mà công ty cần khắc phục. Phân tích các yếu tố bên ngoài tác động đến hoạt động xuất khẩu của công ty để hình thành ma trận đánh giá giá các yếu tố bên ngoài EFE, để xác định được những cơ hội và thách thức cho công ty. 8 Chương 4: Xây dựng – Đánh giá – Lựa chọn phương án Đánh giá các chiến lược mà công ty đã thực hiện trong giai đoạn 2009 – 2013. Hoàn thiện những định hướng phát triển của công ty.
Xác định mục tiêu dài hạn và ngắn hạn của công ty trong giai đoạn 2014 – 2018, kết hợp với những định hướng và những điều đã phân tích được ở Chương 3 để hoạch định chiến lược xuất khẩu cho công ty giai đoạn 2014 – 2018. Chương 5: Kết luận và Kiến nghị 9 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC 2.1 KHÁI NIỆM VỀ CHIẾN LƯỢC 2.1 Chiến lược Trong tiếng Hy Lạp, từ Strategy (chiến lược) xuất phát từ chữ Strategos, có nghĩa là “vị tướng”. Từ strategos được dùng đầu tiên trong quân đội để chỉ vai trò lãnh đạo của các tướng lĩnh, về sau còn bao hàm luôn những cách hành động để chiến thắng quân thù. Cho đến hôm nay, thuật ngữ này được dùng phổ biến trong kinh doanh và cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau trong quá trình phát triển của lý thuyết về chiến lược.
+ Theo Alfred Chandler (1962), “Chiến lược là việc xác định mục tiêu cơ bản dài hạn của công ty, chọn lựa tiến trình hoạt động và phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó”.I (1965), “có thể coi chiến lược như “mạch kết nối chung” giữa các hoạt động của công ty và thị trường tiêu thụ sản phẩm, nó bao gồm bốn bộ phận: phạm vi thị trường – sản phẩm, vectơ tăng trưởng (các thay đổi mà công ty thực hiện để phù hợp với phạm vi thị trường – sản phẩm đã xác định), lợi thế cạnh tranh và sự cộng hưởng”. + Còn theo định nghĩa về chiến lược của Michael E. Porter thì đầu tiên, chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt. Cốt lõi của thiết lập vị thế chiến lược là việc lựa chọn các hoạt động khác với đối thủ cạnh tranh (cũng có thể là hoạt động khác biệt hoặc cách thực hiện hoạt động khác biệt).
Thứ hai, chiến lược là sự chọn lựa, đánh đổi cạnh tranh. Điểm cốt lõi là chọn những gì cần thực hiện và những gì không thực hiện. Thứ ba, chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty. Sự thành công của chiến lược phụ thuộc vào việc thực hiện tốt các hoạt động và sự hội nhập, hợp nhất của chúng.
Theo ông, chiến lược là sự tạo ra vị thế độc đáo và có giá trị bao gồm sự khác biệt hóa (differentiation), sự lựa chọn mang tính đánh đổi nhằm tập trung nhất các nguồn lực (focus) để từ đó tạo ra ưu thế cho tổ chức (M. Porter, What is Strategy, Harvard Business Review, Nov-Dec, 1996). (1995), định nghĩa về chiến lược được chia làm 5 khía cạnh với 5 chữ P: - Plan (Kế hoạch): chuỗi các hành động được dự định một cách nhất quán. - Pattern (Mô thức): sự kiên định về hành vi.
- Position (Vị thế): sự phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó. 10 - Perspective (Quan niệm): cách thức để nhận thức về thế giới. - Ploy (Thủ thuật, mưu lược): con đường, kế sách, cách thức để đối phó với các đối thủ. Như vậy, có thể xem xét rằng: Chiến lược là tập hợp các mục tiêu cơ bản dài hạn, được xác định phù hợp với tầm nhìn, sứ mạng của tổ chức và các cách thức, phương tiện để đạt được những mục tiêu đó một cách tốt nhất, sao cho phát huy được những điểm mạnh, khắc phục được những điểm yếu của tổ chức, đón nhận được các cơ hội, né tránh hoặc giảm thiểu thiệt hại do những nguy cơ từ môi trường bên ngoài.2 Quản trị chiến lược Vấn đề về quản trị chiến lược khá rộng và được nghiên cứu trong nhiều phạm vi khác nhau, chính vì thế mà khái niệm này cũng được trình bày theo những cách khác nhau.
Trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành và phát triển khái niệm, quản trị chiến lược được định nghĩa như sau: + Quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động quản trị quyết định sự thành công lâu dài của công ty (Theo Garry D. Arnold và Bobby G. Bizzell, 2007) + Theo Fred R. David “Quản trị chiến lược có thể được định nghĩa như là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan đến nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra” (Theo Fred R.
David, Khái luận về Quản trị chiến lược, 2006, tr. Như vậy, quản trị chiến lược tập trung vào hợp nhất việc quản trị, tiếp thị, tài chính kế toán, sản xuất, nghiên cứu phát triển và các hệ thống thông tin, các lĩnh vực kinh doanh để đạt được thành công của tổ chức, có liên quan đến các hoạt động về hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá các chiến lược trong một quá trình thường xuyên, liên tục và đòi hỏi sự tham gia của tất cả mọi thành viên trong tổ chức.3 Hoạch định chiến lược Hoạch định chiến lược là giai đoạn đầu tiên của quá trình quản trị chiến lược. Hoạch định chiến lược chính là việc lựa chọn như thế nào để một tổ chức trở nên độc đáo và phát triển hiệu quả những lợi thế cạnh tranh của mình (Theo Michael Porter, 2008). Tuy nhiên, để thực hiện việc hoạch định được hiệu quả và có khoa học cần thực hiện qua 3 giai đoạn (xem thêm Hình 2.1) Muốn hoạch định được một chiến lược cần phải có đầy đủ và chính xác các thông tin có liên quan, nắm rõ những kỹ thuật phân tích, biết cách đánh giá các yếu tố của môi trường bên ngoài và bên trong tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, nhạy bén trong việc chọn lựa và kết hợp các chiến lược.1: Quy trình hoạch định chiến lược Giai đoạn 1: Giai đoạn nhập vào Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài Ma trận hình ảnh Ma trận đánh giá các (EFE) cạnh tranh (CPM) yếu tố bên trong (IFE) Giai đoạn 2: Giai đoạn kết hợp Ma trận điểm Ma trận vị thế Ma trận nhóm Ma trận Ma trận mạnh/yếu, cơ chiến lược và đánh tham khảo ý kiến bên trong – chiến lược hội/thách thức giá hành động BOSTON (BCG) bên ngoài chính (SWOT) (SPACE) (IE) (GS) Giai đoạn 3: Giai đoạn quyết định Ma trận hoạch định chiến lược có khả năng định lượng (QSPM) (Nguồn: Fred R.David, Khái luận về Quản trị chiến lược,2006, tr.260) Giai đoạn nhập vào + Phân tích môi trường bên ngoài Môi trường bên ngoài gồm những yếu tố xảy ra ở bên ngoài mà công ty không thể kiểm soát được, nhưng lại có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, đòi hỏi công ty phải có khả năng phản xạ và thích ứng tốt.
Môi trường bên ngoài được xem xét ở cả hai khía cạnh vĩ mô và vi mô. - Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố về kinh tế, chính trị – pháp luật, văn hóa – xã hội, quốc tế,… - Môi trường vi mô chính là môi trường cạnh tranh gồm những lực tác động từ nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh hiện hữu, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế. Khi phân tích các yếu tố bên ngoài đồng thời ta sẽ xác định được những cơ hội và nguy cơ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Một điều lưu ý đó là môi trường bên ngoài thường xuyên thay đổi, do đó việc phân tích môi trường bên ngoài phải được thực hiện thường xuyên và liên tục.
+ Phân tích môi trường bên trong Môi trường bên trong bao gồm các yếu tố hiện hữu bên trong công ty như các hoạt động về quản trị, nhân lực, tài chính – kế toán, sản xuất tác nghiệp và hệ thống thông tin. Khi phân tích các yếu tố của môi trường bên trong chính là lúc ta nhận diện được 12 những điểm mạnh mà công ty cần phát huy và những điểm yếu còn tồn đọng cần nhanh chóng giải quyết, khắc phục. Những điểm mạnh và điểm yếu của công ty được xác định trên cơ sở so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Việc làm này sẽ giúp cho việc nhận định những điểm mạnh/điểm yếu của công ty trở nên khoa học và có độ tin cậy cao hơn.
Giai đoạn kết hợp Khi đã xác định được những điểm mạnh/điểm yếu, cơ hội/thách thức của công ty, bước tiếp theo chính là việc kết hợp những yếu tố này và chọn lựa những chiến lược phù hợp với công ty. Thông qua việc sử dụng những công cụ phân tích như ma trận SWOT, ma trận BCG hay ma trận chiến lược chính GS, việc lựa chọn các phương án chiến lược sẽ trở nên dễ dàng hơn để chuẩn bị cho giai đoạn cuối cùng. Giai đoạn quyết định Sau khi đã hình thành được một số chiến lược phù hợp cho công ty, chúng ta cần lựa chọn lại chiến lược phù hợp nhất bằng cách sử dụng ma trận hoạch định chiến lược có khả năng định lượng (QSPM).