CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ 1. Những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế 1. Một số khái niệm công cụ 1. Khái niệm nguồn nhân lực "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [15].
Theo định nghĩa của Liên hợp quốc trong đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đến nguồn nhân lực (2009): “ Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế, xã hội trong một cộng đồng”. Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hóa được trong công tác kế hoạch hóa ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động (nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi). Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó, lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người lao động trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp).
Lao động dự trữ bao 8 gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động. Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển. Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
Trong phạm vi luận văn, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể số lượng và chất lượng công chức, viên chức và người lao động có trong danh sách của một tổ chức với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực làm việc bằng thể lực, trí lực của họ và hoạt động theo chức năng nhiệm vụ của tổ chức. Hay có thể gọi là lực lượng lao động của tổ chức. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Nguồn nhân lực không chỉ được xem xét dưới góc độ số lượng mà còn ở khía cạnh chất lượng nguồn nhân lực y tế. Có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực.
TS Nguyễn Tiệp “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh phát triển kinh tế- xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư” [29]. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành 9 nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được thể hiện ở các mặt: Sức khỏe, Trình độ văn hóa, Trình độ chuyên môn kỹ thuật, Năng lực thực tế và tri thức và kỹ năng nghề nghiệp, Tính năng động xã hội, Phẩm chất đạo đức, Hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực, Thu nhập, mức sống và mức độ thõa mãn nhu cầu cá nhân của người lao động. Còn theo quan điểm PGS.TS Trần Xuân Cầu và PGS. TS Mai Quốc Chánh thì chất lượng nguồn nhân lực được hiển như sau: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [13].
Với cách hiểu khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực, nhưng nhìn chung thì chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất. Nó thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực được nhiều tác giả bàn đến. Tổ chức lao động quốc tế cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng nhu thõa mãn nghề nghiệp vào cuộc sống” Phát triển nguồn nhân lực chính là sự tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn phát triển của một quốc gia, một tổ chức.
Do đó, chất lượng nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội. Thông qua chất lượng nguồn nhân lực thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia, chất lượng cuộc sống của dân cư hay độ văn minh của một xã hội. Phát triển nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con người thông qua đào 10 tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc. Việc quản lý và sử dụng đúng nguồn nhân lực sau khi đã được đạo tạo phù hợp với năng lực của mỗi cá nhân phục vụ cho các công việc cụ thể là nhân tố quyết định đến thành công của mỗi cơ quan, tổ chức.
Khái niệm nhân lực y tế Nhân lực y tế là nguồn lực thiết yếu để xây dựng, củng cố hệ thống y tế và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Nhân lực y tế được Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa là “tất cả mọi người tham gia vào các hoạt động chăm sóc và nâng cao sức khỏe”, là trung tâm của mỗi hệ thống y tế. Theo đó, NNLYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên phục vụ gián tiếp mà không cung cấp các dịch vụ y tế. Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu đối tượng nhân lực cung cấp dịch vụ y tế cụ thể là Bác sĩ, Dược sĩ, Y sĩ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên y, là những người thuộc biên chế và hợp đồng lao động đang làm việc trong hệ thống công lập trực tiếp tham gia vào công tác khám, điều trị và chăm sóc cho nhân dân và cán bộ y tế làm công tác quản lý hành chính trong hệ thống công lập.
Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực y tế. Phát triển nguồn nhân lực y tế theo nghĩa rộng là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo sự thay đổi tích cực về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực y tế, được biểu hiện ở việc hoàn thiện và nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ của nhân lực y tế, nhằm đáp ứng về đòi hỏi nguồn nhân lực y tế cho sự phát triển trong từng giai đoạn. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực của nước ta cũng được nêu rõ trong Quyết định 579/QĐ-TTg năm 2011 của Thủ tướng chính phủ: “Phát triển nguồn nhân lực toàn tiện, gồm những yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng, hành vi và ý thức chính trí, xã hội theo yêu cầu phát triển toàn diện con người và phát triển đất nước bền vững”. “Chú trọng phát triển nhân tài, xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành.
11 Phải tập trung giải quyết những vấn đề cốt lõi có tác động quyết định đến sự phát triển nhân lực và phát triển kinh tế xã hội” [35]. Khái niệm chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế Khái niệm chính sách công được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc quan sát khác nhau chính vì thế mà có những cách xác định, cách hiểu không hoàn toàn giống nhau, cụ thể: Theo quan điểm của Thomas Dye (năm 1972) đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công là “ bất kỳ những gì mà nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”. Tác giả TS Đỗ Phú Hải định nghĩa Chính sách công “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định“ [16]. Từ khái niệm chính chính sách công trên, tác giả nghiên cứu một chính sách cụ thể chính sách phát triển NNLYT được hiểu là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước về phát triển nhân lực nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề phát triển nhân lực theo mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã xác định.