Tổng quan nghiên cứu

Tính đến năm 2015, toàn hệ thống y tế tỉnh Lạng Sơn có 3.690 cán bộ phục vụ chăm sóc sức khỏe cho hơn 762.000 người dân, đạt tỷ lệ 8,6 bác sĩ trên một vạn dân. Tuy nhiên, phân hệ y tế dự phòng toàn tỉnh chỉ có 347 nhân lực trực tiếp làm việc tại 21 đơn vị, trong đó tuyến huyện chỉ đạt 31,7% định mức biên chế tối thiểu theo quy định.

Lạng Sơn giữ vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng vùng Đông Bắc, sở hữu 253 km đường biên giới tiếp giáp Trung Quốc với 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và hàng loạt cặp chợ đường biên. Mỗi ngày có hàng nghìn lượt người và phương tiện qua lại, tạo ra áp lực khổng lồ trong việc phòng chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới nổi như SARS, cúm A/H5N1 hay sốt xuất huyết. Bên cạnh đó, mô hình bệnh tật kép cùng biến đổi khí hậu đang đe dọa trực tiếp đến đời sống của người dân trên địa bàn 226 xã, phường, thị trấn. Trong bối cảnh đó, mạng lưới y tế dự phòng địa phương lại bộc lộ sự thiếu hụt nghiêm trọng về số lượng và mất cân đối về cơ cấu chuyên môn.

Đề tài luận văn chuyên khoa cấp II thực hiện ba mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá toàn diện thực trạng số lượng, trình độ và cơ cấu nhân lực y tế dự phòng tỉnh Lạng Sơn năm 2015.
  2. Phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực y tế dự phòng tại địa phương.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển nhân lực y tế dự phòng giai đoạn 2016–2020.

Nghiên cứu được triển khai tại 10 đơn vị tuyến tỉnh và 11 Trung tâm Y tế tuyến huyện trong thời gian từ tháng 01/2016 đến tháng 07/2016. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp căn cứ định lượng xác thực giúp các cấp quản lý quy hoạch lại 74,4% nhân lực tuyến tỉnh và 25,6% nhân lực tuyến huyện, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý nguồn nhân lực y tế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khẳng định nhân lực là thành tố then chốt quyết định hiệu lực vận hành của hệ thống y tế. Quản trị nhân lực y tế đòi hỏi sự cân đối hài hòa giữa số lượng, trình độ chuyên môn, cơ cấu chức danh và sự phân bổ công bằng giữa các tuyến y tế theo đặc thù từng vùng địa lý.

Đồng thời, luận văn áp dụng mô hình can thiệp y học dự phòng và y tế công cộng theo quan điểm của Winslow. Trọng tâm của y tế công cộng là chủ động can thiệp sớm vào các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được (môi trường sống, dinh dưỡng, lối sống và an toàn lao động) nhằm ngăn ngừa bệnh tật từ xa. Theo các thống kê dịch tễ quốc tế, các bệnh mãn tính có thể phòng ngừa chiếm tới 75% tổng chi phí y tế; do đó, đầu tư cho y tế dự phòng là giải pháp tiết kiệm ngân sách và nâng cao tuổi thọ hiệu quả nhất.

Nghiên cứu làm rõ các khái niệm cốt lõi:

  • Nhân lực y tế dự phòng: Lực lượng thực hiện giám sát dịch tễ, kiểm dịch y tế biên giới, an toàn vệ sinh thực phẩm và truyền thông giáo dục sức khỏe.
  • Y tế công cộng: Nghệ thuật và khoa học phòng bệnh, kéo dài tuổi thọ thông qua những nỗ lực có tổ chức của cộng đồng.
  • Định mức biên chế y tế: Chuẩn mực nhân sự bắt buộc được quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV của Liên Bộ Y tế - Bộ Nội vụ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp định lượng và phương pháp định tính. Việc lựa chọn thiết kế hỗn hợp này giúp thu thập các số liệu thống kê chuẩn xác, đồng thời đào sâu các rào cản chính sách và tâm tư nguyện vọng của đội ngũ cán bộ y tế cơ sở.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

  • Nghiên cứu định lượng: Điều tra toàn bộ 347 cán bộ y tế dự phòng đang làm việc tại 21 đơn vị trong toàn tỉnh tính đến ngày 31/12/2015, kết hợp khai thác hồ sơ tổ chức cán bộ.
  • Nghiên cứu định tính: Chọn mẫu có chủ đích với 33 cán bộ tham gia 3 cuộc thảo luận nhóm (13 lãnh đạo đơn vị tuyến tỉnh, 10 cán bộ Trung tâm Y tế huyện Cao Lộc đại diện vùng thấp và 10 cán bộ Trung tâm Y tế huyện Văn Lãng đại diện vùng cao).

Timeline nghiên cứu được triển khai từ tháng 01/2016 đến tháng 07/2016. Dữ liệu định lượng được làm sạch, quản lý và phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) bằng phần mềm SPSS 16.0 và Excel 2010. Dữ liệu định tính được ghi âm, gỡ băng và phân tích theo chủ đề nội dung.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, sự thiếu hụt nhân lực diễn ra trầm trọng tại tuyến huyện. Toàn tỉnh Lạng Sơn có 347 cán bộ y tế dự phòng, nhưng có tới 258 người (chiếm 74,4%) tập trung ở tuyến tỉnh, tuyến huyện chỉ có 89 người (chiếm 25,6%). Toàn bộ 11/11 Trung tâm Y tế tuyến huyện (100%) đều không đạt định mức biên chế tối thiểu theo Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-BYT-BNV. Tuyến huyện hiện chỉ đạt 31,7% so với mức tối thiểu (89/281 biên chế) và đạt 20,4% so với mức tối đa (89/438 biên chế). Điển hình như Trung tâm Y tế thành phố Lạng Sơn với hơn 86.500 dân chỉ có 7 cán bộ dự phòng, đạt 28% mức tối thiểu.

Thứ hai, tuyến tỉnh chưa đạt mức biên chế tối đa và phân bố không đồng đều. Tuyến tỉnh đạt 92% mức tối thiểu (258/280 biên chế) và đạt 80,6% mức tối đa (258/320 biên chế). Chỉ có 3/10 đơn vị tuyến tỉnh đạt mức tối thiểu gồm Trung tâm Kiểm nghiệm Dược phẩm - Mỹ phẩm (112%), Trung tâm Phòng chống Bệnh xã hội (110%) và Trung tâm Phòng chống Sốt rét (100%). Ngược lại, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình chỉ đạt 50% và Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe chỉ đạt 66,7% định mức tối thiểu.

Thứ ba, cơ cấu nhân lực bộc lộ tình trạng già hóa và mất cân đối thâm niên. Nhóm tuổi từ 40-49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất toàn tỉnh với 37,5% (130 cán bộ), nhóm trên 50 tuổi chiếm 25,9% (90 cán bộ), trong khi nhóm trẻ 20-29 tuổi chỉ đạt 20,5% (71 cán bộ). Đáng chú ý, cán bộ có thời gian công tác trên 20 năm chiếm tới 45% (156 người; tuyến huyện là 47,2%). Về giới tính, nữ giới chiếm 56,2% toàn tỉnh và lên tới 64% tại tuyến huyện.

Thứ tư, nguồn đào tạo phụ thuộc lớn vào địa phương. Nhân lực được đào tạo tại tỉnh Lạng Sơn chiếm 39,8% (tuyến huyện chiếm tới 60%), đào tạo tại khu vực Đông Bắc chiếm 37,5%, trong khi nhân lực tốt nghiệp từ Hà Nội chỉ chiếm 18,1% và các tỉnh ngoài Đông Bắc chỉ chiếm 4,6%.

Thảo luận kết quả

Thực trạng thiếu hụt nhân lực tại tuyến cơ sở của Lạng Sơn bắt nguồn từ áp lực địa bàn miền núi biên giới hiểm trở, giao thông đi lại cách trở cùng chế độ đãi ngộ còn nhiều hạn chế. Thu nhập của nhân viên y tế dự phòng chủ yếu dựa vào lương cơ bản, chế độ phụ cấp lưu động đi cơ sở chỉ ở mức 5.000 đồng/ngày, không có cơ hội làm thêm ngoài giờ như khối khám chữa bệnh. Điều này dẫn đến sự dịch chuyển nhân lực chất lượng cao sang các cơ sở y tế tư nhân hoặc bệnh viện tuyến trên.

Khi so sánh với các nghiên cứu tại Hòa Bình, Hà Giang, Cao Bằng và Đắk Lắk, tình trạng thiếu hụt biên chế dự phòng tuyến huyện là vấn đề mang tính hệ thống ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, tỷ lệ nhân lực y tế dự phòng trên vạn dân của Lạng Sơn còn khoảng cách khá xa so với các tỉnh lân cận do nguồn tuyển đầu vào còn eo hẹp.

Để tối ưu hóa việc theo dõi dữ liệu, các phát hiện này có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột đôi so sánh tỷ lệ đáp ứng biên chế thực tế với định mức quy định giữa tuyến tỉnh (92%) và tuyến huyện (31,7%), kết hợp biểu đồ tròn minh họa cơ cấu nơi đào tạo với 39,8% nội tỉnh và 37,5% khu vực Đông Bắc.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn tuyển dụng và bổ sung biên chế y tế cơ sở. Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Y tế Lạng Sơn cần khẩn trương xây dựng kế hoạch tuyển dụng bổ sung nhân sự cho 11 Trung tâm Y tế huyện giai đoạn 2016–2020. Mục tiêu trọng tâm là nâng tỷ lệ đáp ứng biên chế tuyến huyện từ mức 31,7% hiện nay lên đạt tối thiểu 75% định mức quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, ưu tiên tuyển dụng bổ sung bác sĩ y học dự phòng và cử nhân xét nghiệm.

Thứ hai, tinh gọn bộ máy và sáp nhập đầu mối quản lý. Sở Y tế chủ trì tham mưu đề án sáp nhập các trung tâm y tế chuyên khoa tuyến tỉnh để thành lập Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn 2016–2018. Đồng thời, thống nhất mô hình Trung tâm Y tế huyện thực hiện cả hai chức năng khám chữa bệnh và y tế dự phòng nhằm tích hợp cơ sở vật chất, tránh dàn trải và tận dụng tối đa 258 cán bộ tuyến tỉnh để chi viện chuyên môn cho tuyến dưới.

Thứ ba, đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu và chuẩn hóa chuyên môn. Các đơn vị y tế dự phòng cần phối hợp với Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên và các viện chuyên ngành trung ương triển khai các khóa đào tạo liên tục, đào tạo theo địa chỉ và đào tạo sau đại học. Phấn đấu đến năm 2020 đạt chỉ tiêu 100% cán bộ tuyến huyện được chuẩn hóa chuyên môn và có ít nhất 30% nhân lực tuyến tỉnh đạt trình độ sau đại học.

Thứ tư, cải thiện chế độ đãi ngộ và nâng cấp điều kiện làm việc. Hội đồng nhân dân tỉnh cần ban hành nghị quyết chuyên đề về chính sách thu hút nhân tài, hỗ trợ kinh phí một lần và phụ cấp đặc thù cho bác sĩ công tác tại các huyện biên giới, vùng sâu vùng xa. Song song đó, ngành y tế cần bố trí ngân sách hiện đại hóa trang thiết bị phòng xét nghiệm tại 21 đơn vị y tế dự phòng trong giai đoạn 2016–2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý và hoạch định chính sách y tế: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Y tế và Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn cũng như các tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Luận văn cung cấp luận cứ thực nghiệm để xây dựng đề án vị trí việc làm, phân bổ chỉ tiêu biên chế và ban hành chính sách đãi ngộ y tế dự phòng.

Nhóm lãnh đạo các cơ sở y tế dự phòng: Ban giám đốc của 10 trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh và 11 Trung tâm Y tế huyện trên địa bàn. Nghiên cứu hỗ trợ đánh giá đúng năng lực 347 nhân sự hiện có, từ đó xây dựng kế hoạch sắp xếp vị trí việc làm và cử cán bộ đi đào tạo lại một cách khoa học.

Nhóm nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Giảng viên và học viên chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Quản lý y tế tại các trường đại học y dược. Tài liệu là nguồn tham khảo phương pháp luận mô tả cắt ngang kết hợp định lượng SPSS 16.0 và thảo luận nhóm định tính 33 cán bộ trong nghiên cứu hệ thống y tế.

Nhóm cán bộ y tế dự phòng và sinh viên y khoa: Bác sĩ, cử nhân y tế công cộng, kỹ thuật viên xét nghiệm và sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp. Tài liệu giúp người đọc nắm bắt bức tranh nghề nghiệp thực tế, yêu cầu chuẩn hóa chuyên môn và cơ hội phát triển tại mạng lưới y tế dự phòng vùng Đông Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ đáp ứng biên chế của các đơn vị y tế dự phòng tuyến huyện tại tỉnh Lạng Sơn đạt mức bao nhiêu? Theo kết quả nghiên cứu năm 2015, tất cả 11 Trung tâm Y tế tuyến huyện của tỉnh Lạng Sơn đều không đạt định mức biên chế tối thiểu theo Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-BYT-BNV. Tổng nhân lực hiện có tại 11 huyện chỉ có 89 người, đạt tỷ lệ 31,7% so với mức tối thiểu cần có (281 người) và đạt 20,4% so với mức tối đa (438 người).

Cơ cấu độ tuổi và thâm niên công tác của nhân lực y tế dự phòng Lạng Sơn có đặc điểm gì nổi bật? Nguồn nhân lực y tế dự phòng Lạng Sơn đang đối mặt với nguy cơ già hóa rõ rệt khi nhóm cán bộ từ 40 tuổi trở lên chiếm tới 63,4% (trong đó độ tuổi 40-49 chiếm 37,5% và trên 50 tuổi chiếm 25,9%). Cán bộ có thâm niên công tác trên 20 năm chiếm tỷ lệ cao nhất toàn tỉnh với 45%, riêng tuyến huyện lên tới 47,2%.

Nguồn đào tạo của nhân lực y tế dự phòng tỉnh Lạng Sơn chủ yếu tập trung ở đâu? Nguồn nhân lực y tế dự phòng của tỉnh chủ yếu được đào tạo tại các cơ sở đào tạo nội tỉnh Lạng Sơn, chiếm tỷ lệ 39,8% toàn tỉnh (riêng tuyến huyện chiếm tới 60%). Tiếp theo là khu vực Đông Bắc chiếm 37,5%, trong khi tỷ lệ cán bộ được đào tạo tại Hà Nội chỉ đạt 18,1% và các tỉnh ngoài Đông Bắc chỉ chiếm 4,6%.

Những nguyên nhân chính nào khiến tuyến huyện khó tuyển dụng và giữ chân cán bộ y tế dự phòng? Nguyên nhân cốt lõi bao gồm thu nhập thấp, chế độ phụ cấp lưu động chỉ 5.000 đồng/ngày trong khi địa bàn đồi núi rộng lớn, hiểm trở. Ngoài ra, cán bộ dự phòng không có cơ hội làm thêm ngoài giờ để tăng thu nhập như khối điều trị, cùng với điều kiện làm việc và trang thiết bị xét nghiệm tại tuyến huyện còn nhiều thiếu thốn.

Nghiên cứu đề xuất giải pháp đột phá nào về mô hình tổ chức hệ thống y tế dự phòng? Luận văn khuyến nghị thực hiện mô hình sáp nhập các trung tâm y tế chuyên khoa tuyến tỉnh để thành lập Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016–2018. Đồng thời, duy trì và nâng cao hiệu quả mô hình Trung tâm Y tế huyện hai chức năng nhằm tập trung nguồn lực và hỗ trợ chuyên môn cho tuyến cơ sở.

Kết luận

  • Hệ thống y tế dự phòng tuyến huyện tỉnh Lạng Sơn thiếu hụt nhân lực nghiêm trọng khi 100% đơn vị không đạt định mức biên chế tối thiểu, chỉ đáp ứng được 31,7% nhu cầu theo quy định của Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-BYT-BNV.
  • Đội ngũ nhân lực đang đối mặt với tình trạng già hóa và chênh lệch giới tính rõ nét, với 63,4% cán bộ từ 40 tuổi trở lên, 45% có thâm niên trên 20 năm và nữ giới chiếm đa số với 56,2%.
  • Trình độ và nguồn đào tạo phụ thuộc chủ yếu vào các cơ sở nội tỉnh (39,8%) và khu vực Đông Bắc (37,5%), đòi hỏi phải nâng cấp mạnh mẽ chất lượng đào tạo chuyên sâu về y học dự phòng và xét nghiệm.
  • Luận văn cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc phục vụ lộ trình thành lập mô hình CDC cấp tỉnh và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở hai chức năng tại Lạng Sơn.
  • Lộ trình giai đoạn 2016–2020 cần tập trung thực hiện đồng bộ giải pháp tuyển dụng bù đắp biên chế, đổi mới chính sách phụ cấp ưu đãi nghề và đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất phòng xét nghiệm.

Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý y tế quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để ứng dụng vào công tác hoạch định chính sách và nâng cao năng lực kiểm soát dịch bệnh bảo vệ sức khỏe nhân dân.