Mở đầu Phần 2: Nội dung nghiên cứu gồm 3 chƣơng - Chƣơng 1 - Cở sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực y tế. - Chƣơng 2 - Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2008-2012. - Chƣơng 3 - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Trà Vinh. Phần 3: Kết luận và khuyến nghị 6.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, nhu cầu phát triển NNL là vấn đề cấp thiết của Đảng ta. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về phát triển NNL đã đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển NNL có hiệu quả trong tình hình phát triển kinh tế của nƣớc ta. Một trong những công trình có liên quan đến vấn đề phát triển NNL gồm: - TS Vũ Bá Thể trong quyển sách: “Phát huy nguồn lực con ngƣời để công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiển Việt Nam”, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội năm 2005. Tác giả đã khái quát về kinh nghiệm một số nƣớc trong việc phát huy nguồn lực con ngƣời để phát triển kinh tế.
Đồng thời, nêu lên những thực trạng NNL ở nƣớc ta trong những năm qua đã làm rõ thực trạng số lƣợng và chất lƣợng NNL nƣớc ta hiện nay, trong đó tập trung phân tích những ƣu điểm, hạn chế và xu hƣớng phát triển của NNL Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của nƣớc ta; đồng thời từ đó, rút ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của chúng. Từ đó có những định hƣớng và những giải pháp phát huy Luan van 4 nguồn lực con ngƣời để công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong thời gian tới.TS Phạm Thành Nghị: "Nâng cao hiệu quả quản lý NNL trong quá trình công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc", Nhà xuất bản Khoa học xã hội, hà Nội 2006. Quyển sách đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản, những nhận thức mới và hiện đại về quản lý NNL nhƣ vấn đề vốn con ngƣời về phát triển vốn con ngƣời; các mô hình quản lý NNL; các yếu tố tác động đến quản lý NNL. Những lý giải của tác giả về những vấn đề trên là rất rõ ràng, mạch lạc và có sức thuyết phục.
Bên cạnh đó, quyển sách còn trình bày những kinh nghiệm quản lý NNL của các nƣớc phát triển nhƣ Hoa Kỳ, thụy Điển. các tƣ liệu này có giá trị tham khảo rất tốt đối với quản lý NNL ở Việt Nam trong quá trình đổi mới. Ngoài ra quyển sách đã có kiến nghị áp dụng những mô hình quản lý NNL cho phù hợp thay thế cho các mô hình đã lạc hậu, đồng thời cũng đề xuất hệ thống những quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NNL trong ba khu vực: hành chính nhà nƣớc, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh; các đề xuất này khá toàn diện, đồng bộ, có cơ sở khoa học và có tính khả thi. - Đề tài Khoa học công nghệ cấp Nhà nƣớc KX-07-14 (1991- 1995) do GS.TS Nguyễn An Lƣơng làm chủ nhiệm “Cơ sở khoa học và những kiến giải để cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn và bảo vệ sức khoẻ ngƣời ngƣời lao động góp phần xây dựng nhân cách con ngƣời Việt Nam” (1995) đã cho thấy điều kiện làm việc thiếu thốn, thu nhập của ngƣời lao động còn rất thấp, bảo hộ lao động bất cập so với yêu cầu an toàn lao động và bảo vệ sƣc khoẻ của ngƣời lao động.
Đề tài cũng đƣa ra những kiến nghị, giải pháp cải thiện điều kiện làm việc, phòng chống tai nạn lao động. - Đề tài cấp Nhà nƣớc do TS Lƣu Bách Hồ làm chủ nhiệm “Cơ sở khoa học cho chiến lƣợc và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đến năm 2020” cho thấy NNL nƣớc ta có cơ cấu trẻ nhƣng trình độ chuyên môn Luan van 5 và nghiệp vụ thấp, tỷ lệ chƣa qua đào tạo cao, lực lƣợng chƣa qua đào tạo phân bố không hợp lý theo vùng lãnh thổ, theo cơ cấu ngành nghề. Các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trong việc cung cấp lý luận về phát triển NNL nói chung và ngành y tế nói riêng trong phạm vi cả nƣớc. Song đối với tỉnh Trà Vinh chƣa có công trình nghiên cứu khoa học nào về phát triển NNL trong ngành y tế.
Vì vậy, việc nghiên cứu “Phát triển NNL ngành y tế tỉnh Trà Vinh” là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với địa phƣơng. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ 1. Một số khái niệm a.
Nguồn nhân lực NNL là nguồn lực con ngƣời, là tiềm năng lao động của mỗi con ngƣời trong một thời gian nhất định. NNL là động lực nội sinh quan trọng nhất, đƣợc nghiên cứu trên giác độ số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu, trong đó trí tuệ, thể lực và phẩm chất, đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp và sự tƣơng tác giữa các cá nhân trong cộng đồng. NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một ngành, một tổ chức, của địa phƣơng hay một quốc gia ở một thời điểm nhất định. Nguồn nhân lực y tế - Khái niệm “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những ngƣời tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”.
Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, ngƣời làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp dịch vụ y tế. Nó bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ không chính thức nhƣ tình nguyện viên xã hội, những ngƣời chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y…; kể cả những ngƣời làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (nhƣ quân đội, trƣờng học hay các doanh nghiệp). Theo định nghĩa nhân lực y tế của Tổ chức y tế thế giới, ở Việt Nam các nhóm đối tƣợng đƣợc coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập, bao gồm cả quân y, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học Luan van 7 y/dƣợc và tất cả những ngƣời khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tƣ nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vƣờn). Phát triển nguồn nhân lực y tế - Khái niệm Phát triển NNL là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo ra sự thay đổi tích cực về số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu NNL, đƣợc biểu hiện ở việc hoàn thiện và nâng cao kiến thức, kỹ năng, nhận thức của NNL, nhằm đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển.
- Các yếu tố cấu thành năng lực của nguồn nhân lực y tế Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý đã thống nhất rằng chất lƣợng NNL đƣợc cấu thành từ bốn yếu tố chính bao gồm: kiến thức, kỹ năng, thái độ và sức khỏe. + Kiến thức ngƣời lao động. Kiến thức là những gì con ngƣời tích lũy trong cuộc sống của mình, thông qua giáo dục hoặc quá trình trải nghiệm cuộc sống, đáp ứng sở thích hay nhu cầu tồn tại và phát triển của con ngƣời. Kiến thức ngƣời lao động đƣợc đề cập ở đây là kiến thức mà họ tiếp nhận trong quá trình đào tạo và tự tạo.
Những kiến thức đó đã và sẽ đƣợc phục vụ trong công việc và cuộc sống. Chúng bao gồm các kiến thức nghề nghiệp chuyên môn của mình và các kiến thức về xã hội, hội nhập, cạnh tranh, pháp luật, kiến thức về quản lý, điều hành, văn hóa bản địa - dân tộc, môi trƣờng… Đây là phần mà ngƣời lao động đƣợc đào tạo chủ yếu trong quá trình học tập trong các trƣờng dạy nghề, cao đẳng và đại học. Kiến thức đƣợc xem là yếu tố nền tảng cơ bản nhất ngoài các yếu tố khác mà ngƣời lao động cần phải trang bị khi ra ngoài xã hội đƣơng đầu với những công việc trong Luan van 8 một môi trƣờng kinh doanh luôn biến động. Kiến thức luôn luôn cần thiết cho nhu cầu tuyển dụng của xã hội, thế nhƣng việc ngƣời lao động biết vận dụng kiến thức đã đƣợc trang bị từ nhà trƣờng, từ bản thân vào công việc thực tế là điều hết sức quan trọng để hình thành nên chất lƣợng nhân lực cho doanh nghiệp + Kỹ năng ngƣời lao động Trong thực tế công việc, trang bị kiến thức tốt về nghề nghiệp chuyên môn và những kiến thức liên quan là điều kiện cần nhƣng chƣa đủ ở ngƣời lao động.
Ngoài việc nắm bắt tốt kiến thức chuyên môn đòi hỏi ngƣời lao động phải có kỹ năng về công việc mình đang đảm nhiệm. Vậy kỹ năng là gì? “Kỹ năng là khả năng thực hiện một tập hợp các động tác chuẩn, thao tác chuẩn và cấu trúc chuẩn tạo kết quả xuất sắc vƣợt trội gấp nhiều lần ngƣời không có kỹ năng”. Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó đƣợc sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. Kỹ năng là khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong một hoàn cảnh, điều kiện nhất định, đạt đƣợc một chỉ tiêu nhất định.
Các kỹ năng có thể là kỹ năng nghề nghiệp (các kỹ năng kỹ thuật cụ thể nhƣ hàn, tiện, đánh máy, lái xe, lãnh đạo, quản lý, giám sát…) và kỹ năng sống (các kỹ năng giao tiếp, ứng xử, tƣ duy, giải quyết xung đột, hợp tác, chia sẻ…). Mỗi ngƣời học nghề khác nhau thì có các kỹ năng khác nhau nhƣng các kỹ năng sống là các kỹ năng cơ bản thì bất cứ ai làm nghề gì cũng cần phải có. Ngoài ra, một số kỹ năng không kém phần quan trọng đối với ngƣời lao động đƣợc đề cập ở đây là: ngoại ngữ, xúc tiến bán hàng, công nghệ thông tin, vƣợt qua khó khăn… Theo đó, kỹ năng mềm là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con ngƣời nhƣ: kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc Luan van 9 theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, thƣ giãn, vƣợt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới.