CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHÂT Từ lâu trong xã hội đã chú trọng đến việc đảm bảo cho người lao động có được những năng lực và phẩm chất phù hợp với nghề. Khi đề cập đến vấn đề phát triển năng lực học sinh, nhiều công trình nghiên cứu về khoa học giáo dục đã khẳng định sự cần thiết phải phát triển năng lực kỹ thuật, năng lực sáng tạo, năng lực tự học cho người học. Để xác định những phẩm chất phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp cá nhân, cần phải tính đến những thiên hướng và năng lực của bản thân, phải biết những phẩm chất cá nhân có phù hợp với những yêu cầu mà nghề đó quy định hay không, trong đó phải xét đến các khả năng về thể chất, đặc điểm tính cách, hứng thú, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… và cả tình cảm và ý chí.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Dạy học theo năng lực thực hiện (NLTH) xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ trước. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như A.Pojoux đã đề cập đến việc tổ chức huấn luyện các kỹ năng thực hành giảng dạy cho sinh viên (SV) dựa trên cơ sở các thành tựu tâm lý học hành vi và tâm lý học chức năng [9]. Nhóm “Phi Delta Kapkar” thuộc Đại học StanFort (Mỹ) đã đưa ra báo cáo “Khoa học và nghệ thuật đào tạo các thầy giáo”, phân tích công việc của thầy giáo thành các bộ phận, những hành động có thể dạy và đánh giá được cho người thầy giáo tương lai [13]. Việc phát triển nguồn nhân lực được rất nhiều giới, ngành, các nhà chính trị, kinh doanh và giáo dục quan tâm nghiên cứu.
Điểm trung tâm của những 6 nỗ lực phát triển nguồn nhân lực được mọi người nhất trí và chú trọng tập trung vào “học tập và nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ nghề nghiệp”. Bằng việc chú trọng vào nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, tiếp cận dựa trên năng lực là rất phổ biến trên toàn thế giới. Tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển rộng khắp tại Mỹ vào những năm 1970. Trong phong trào đào tạo và giáo dục các nhà giáo dục và đào tạo nghề dựa trên việc thực hiện nhiệm vụ, các tiếp cận về năng lực đã phát triển một cách mạnh mẽ trên một nấc thang mới năm 1990 với hàng loạt các tổ chức có tầm cỡ quốc gia ở Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, Xứ Wales… Vấn đề quan trọng của phát triển các chương trình giáo dục và đào tạo theo năng lực thực hiện là cần phải xác định các tiêu chuẩn năng lực từ các đòi hỏi của hoạt động nghề nghiệp.
Chuẩn năng lực được xác định dựa trên kết quả của phân tích nghề, phân tích chỗ làm việc, các chuẩn mực này là kết quả đầu ra của quá trình đào tạo. Chính vì vậy nó cũng chính là những mục tiêu dạy học của chương trình. Trong đào tạo theo NLTH, các tiêu chuẩn theo kết quả hay đầu ra (chính là các NLTH) luôn luôn được sử dụng làm cơ sở để lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá quá trình cũng như kết quả học tập. Đào tạo theo NLTH chứa đựng trong đó những yếu tố cải cách, thể hiện ở chỗ nó gắn rất chặt chẽ với yêu cầu của chỗ làm việc, của người sử dụng lao động, của các ngành kinh tế (gọi chung là ngành nghề).
Cuối của thế kỷ 20, đào tạo đào tạo theo NLTH đã trở thành một xu thế phổ biến trong giáo dục nghề nghiệp trên thế giới và được nhiều nhà khoa học quan tâm. Ở Anh có công trình "Thiết kế đào tạo theo năng lực thực hiện" của S. Ở Úc có công trình "Thiết kế chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện" của Bruce Markenzie [18]. Tổ chức Lao động thế giới đã khuyến cáo đào tạo nghề theo "Mô đun kỹ năng hành nghề" (MES), đã biên soạn gần 7 100 bộ chương trình đào tạo nghề ngắn hạn theo MES, tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, học xong mỗi module, người học được cấp chứng chỉ để hành nghề [10], và nhiều công trình khác.
Song hành với năng lực thực hiện, các triết gia nổi tiếng như Arixtôt (384 – 322 TCN), Mạnh Tử, Tuân Tử đã có quan niệm về phẩm hạnh của một con người. Người có phẩm hạnh sẽ thu hút, điều khiển được người khác và họ đều cao thượng, đáng kính. Triết gia Khổng Tử cho rằng, người quân tử phải “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, lấy chữ “đức” làm trọng, thu phục nhân tâm làm việc lớn, lòng dạ ngay thẳng, đức độ khoan dung… Ngay cả việc tuyển chọn người vào phục vụ trong cung đình phải trải qua sự tuyển chọn cực kỳ khắt khe về kỹ năng lao động, về sự phục tùng, tính nhẫn nhục chịu đựng, lòng dũng cảm, tinh thần khắc phục khó khăn. Trong lĩnh vực nghiên cứu về phẩm chất nghề nghiệp và sự phát triển nghề cũng đã có nhiều tác giả trên thế giới quan tâm, nghiên cứu như: R.
Các nghiên cứu đã phát hiện ra một số kỹ năng nghề nghiệp và sự hình thành phát triển những kỹ năng đó trong quá trình lao động. Họ đã đưa ra những tiêu chí đánh giá người lao động trong đó đặc biệt là các kỹ năng lao động. Trên cơ sở đó để tuyển chọn và huấn luyện người lao động đem lại hiệu quả kinh tế và lợi nhuận cho các nhà tư bản. Một số tác giả khác khi nghiên cứu sự hình thành nghề và phẩm chất của nghề đã chú trọng đến mặt động cơ (R.Roe 1914) hay đặc điểm quá trình nhận thức về nghề ở cá nhân (D.
Nhà tâm lý học R.Stogdill đã nghiên cứu sâu về những phẩm chất của người lãnh đạo và xác định người lãnh đạo cần có 5 đặc điểm về thể chất (chiều cao, ngoại hình, sức khỏe…), 4 đặc điểm về tri thức, 16 đặc điểm về nhân cách, 9 đặc điểm về xã hội và 6 đặc điểm tính cách… Ông cho rằng từng đặc điểm riêng lẻ có thể không có ý nghĩa, nhưng một nhóm đặc điểm thì liên quan rất 8 chặt chẽ với sự thành công. Stogdill khẳng định rằng: “có một mối tương quan nhất định giữa các đặc điểm về sự thông minh, uyên bác, đáng tin cậy, trách nhiệm, sự tham gia xã hội, và địa vị kinh tế - xã hội của người lãnh đạo so với người không phải là lãnh đạo” [24, tr.Gônôbôlin với công trình “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” đã nêu lên các phẩm chất phù hợp với công việc giảng dạy và giáo dục học sinh. Đó là các phẩm chất như: đạo đức, chí hướng, hứng thú, năng lực, quá trình nhận thức, hoạt động trí tuệ, tình cảm, phẩm chất ý chí [11]. Tác giả Khăm Kẹo Vông Phi La trong công trình nghiên cứu về phẩm chất nhân cách của người hiệu trưởng trường tiểu học cho rằng người hiệu trưởng tiểu học cần phải có ba nhóm phẩm chất: nhóm phẩm chất đạo đức, nhóm phẩm chất tư tưởng – chính trị, nhóm phẩm chất công việc.
Trong đó, nhóm phẩm chất đạo đức giữ vị trí quan trọng hàng đầu [15]. Qua các nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài cho thấy vấn đề năng lực và phẩm chất trong hoạt động nghề từ lâu đã được khá nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Xuất phát từ những đặc điểm của hoạt động, từ yêu cầu của công việc đòi hỏi ở chủ thể phải có những năng lực và phẩm chất để đáp ứng. Đồng thời chính trong hoạt động lại là điều kiện để hình thành và phát triển những phẩm chất mà hoạt động đó đòi hỏi.
Những kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về năng lực và phẩm chất trong hoạt động nghề nói chung đã cung cấp những cơ sở quan trọng giúp chúng tôi định hướng trong quá trình nghiên cứu của mình. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Khái niệm về đào tạo nghề theo module và NLTH lần đầu tiên được Viện Khoa học Dạy nghề đề cập đến vào năm 1986. Sau đó đào tạo nghề ngắn hạn theo module kỹ năng hành nghề và NLTH đã được một số nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Minh Đường đã có các công trình: "Module 9 kỹ năng hành nghề - Phương pháp tiếp cận hướng dẫn biên soạn và áp dụng" (1993) [7], "Phương pháp đào tạo nghề theo module kỹ năng hành nghề" (1994) [8], "Đào tạo nghề theo NLTH" (2004) [9], Tác giả Nguyễn Đức Trí đã có các công trình như: "Đào tạo nghề dựa trên NLTH khái niệm và những đặc trưng cơ bản" (1995) [26], "Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề (Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ năm 1996) [27].
Cũng đã có một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về đào tạotheo NLTH như: Luận án tiến sĩ "Các giải pháp đổi mới quản lý dạy học thực hành theo tiếp cận NLTH cho sinh viên sư phạm kỹ thuật" của Nguyễn Ngọc Hùng (2005) [13], luận văn thạc sĩ "Đổi mới dạy học thực hành nghề kỹ thuật điện tại trường Cao đẳng Công nghiệp Dệt may thời trang Hà Nội theo NLTH" của Vũ Văn Thảo v. Trong những năm gần đây việc áp dụng tiếp cận NLTH vào đào tạo nghề đã tạo ra những chuyển biến tích cực về chất lượng đào tạo, tuy nhiên qua đó cũng cho thấy đội ngũ giáo viên dạy nghề (GVDN) còn nhiều hạn chế, bất cập nhất là trong việc thiết kế dạy học. Việc thiết kế dạy học (soạn giáo án) còn thiếu tính khoa học, thuần túy dựa trên nội dung dạy học, rất ít giáo viên (GV) quan tâm đến việc xác định đúng mục tiêu dạy học cũng như phân tích dạy học. Giáo án chỉ là một tài liệu liệt kê lại dàn bài và nội dung chính, kèm theo tên phương pháp giảng dạy mà GV chọn hoặc cảm thấy nên chọn, không thể hiện được hoạt động học và các tiêu chí phải đạt được của hoạt động học.
Sự phân bố nội dung, thời gian chưa hợp lý nhất là trong phần hướng dẫn thực hành. Còn một số GV xác định không đúng mục tiêu dạy học, nhầm lẫn giữa mục tiêu dạy và mục tiêu học, giữa mục tiêu và yêu cầu chưa nắm vững các phương pháp dạy học (PPDH), 10 nên lựa chọn phương pháp không phù hợp với nội dung dạy học và đối tượng học.