Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học, tư duy phản biện được xác định là một trong những năng lực cốt lõi hàng đầu. Kết quả điều tra thực tế cho thấy có tới 88% giáo viên trung học phổ thông nhận thức rõ tầm quan trọng sống còn của việc rèn luyện tư duy phản biện cho người học; tuy nhiên, nghịch lý là có đến 74,5% học sinh chưa từng chủ động đặt câu hỏi chất vấn hay tranh luận với giáo viên trong các giờ học Ngữ văn. Lối dạy học truyền thống mang nặng tính áp đặt, thuyết giảng một chiều và phục vụ mục tiêu thi cử đối phó đã biến học sinh thành những người tiếp nhận thụ động, triệt tiêu khả năng tư duy độc lập và năng lực hoài nghi khoa học.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn của tác giả Nguyễn Thị Anh Đào, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Phạm Minh Diệu tại Trường Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017, tập trung giải quyết bài toán cấp thiết: Xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm và quy trình dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy phản biện cho học sinh lớp 12 thông qua mảng văn học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn sau năm 1975. Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm được triển khai trực tiếp trong học kỳ I năm học 2017 - 2018 tại 2 trường trung học phổ thông trọng điểm của tỉnh Nam Định là THPT Tống Văn Trân và THPT Mỹ Tho. Đề tài mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng tỷ lệ học sinh chủ động tranh biện từ mức dưới 27% lên trên 70%, tạo bước đột phá trong phương pháp tiếp cận tác phẩm văn chương hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận vững chắc của các học thuyết giáo dục và tâm lý học hiện đại. Luận văn kế thừa quan điểm của John Dewey về bản chất của tư duy phản biện là sự suy xét chủ động, cẩn trọng và toàn diện mọi thông tin trước khi đưa ra phán đoán; tích hợp mô hình đánh giá tư duy phản biện với 13 tiêu chuẩn đặc trưng của Robert H. Ennis ban hành năm 1993; đồng thời vận dụng khung 6 kỹ năng tư duy cốt lõi theo công bố năm 2015 của Peter A. Facione bao gồm: diễn giải, phân tích, đánh giá, suy luận, giải thích và tự điều chỉnh. Bên cạnh đó, đề tài khai thác sâu lý thuyết dạy học giải quyết vấn đề của Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường để thiết kế các tình huống kích hoạt tư duy người học.

Khung lý thuyết của luận văn bao hàm 4 khái niệm trung tâm: năng lực người học, tư duy phản biện, năng lực tư duy phản biện trong tiếp nhận văn học và đặc trưng thể loại truyện ngắn sau năm 1975. Dạy học phát triển năng lực được cụ thể hóa theo tinh thần Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Trong bộ môn Ngữ văn, năng lực tư duy phản biện được định nghĩa là sự tổng hòa giữa khả năng thu thập, phân tích, so sánh, đối thoại đa chiều và đánh giá văn bản nghệ thuật dựa trên lập luận logic, bằng chứng xác thực cùng thái độ không định kiến. Truyện ngắn sau năm 1975 với tính chất mở, đa thanh, đa điểm nhìn và cách tiếp cận con người thế sự đa diện là chất liệu nghệ thuật lý tưởng để học sinh rèn luyện kỹ năng phản biện.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn định lượng, định tính. Nguồn dữ liệu thực chứng được thu thập từ cuộc khảo sát diện rộng với cỡ mẫu gồm 58 giáo viên Ngữ văn tại 6 trường THPT thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (THPT Tống Văn Trân, THPT Đại An, THPT Mĩ Tho, THPT Phạm Văn Nghị, THPT Dân lập, THPT Lí Nhân Tông) và 228 học sinh thuộc 6 lớp 12 tại trường THPT Tống Văn Trân. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho đối tượng dạy và học ở khu vực nông thôn, nơi học sinh thường có tâm lý rụt rè và thụ động hơn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê xã hội học kết hợp thực nghiệm sư phạm đối chứng là để đo lường chính xác sự biến chuyển của các chỉ số năng lực trước và sau tác động. Nghiên cứu tiến hành xử lý dữ liệu qua bảng biểu, tính toán tỷ lệ phần trăm và đối sánh định lượng các tiêu chí đánh giá mức độ phản biện giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu lý thuyết, điều tra thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm được tiến hành bài bản, nghiêm túc trong mốc thời gian từ đầu năm 2017 đến tháng 11 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng cho thấy một bức tranh toàn diện với 4 phát hiện then chốt về việc dạy và học Ngữ văn lớp 12:

Thứ nhất, tồn tại sự mâu thuẫn sâu sắc giữa nhận thức và thực hành sư phạm của đội ngũ giáo viên. Dù có 88% giáo viên khẳng định tầm quan trọng của việc rèn luyện tư duy phản biện và 63,8% hiểu đúng bản chất vấn đề, nhưng có tới 56,9% giáo viên thừa nhận không bao giờ hạn chế phương pháp thuyết trình một chiều trong giờ dạy. Chỉ có vỏn vẹn 13,8% giáo viên thường xuyên giảm bớt việc giảng giải áp đặt để nhường không gian cho học sinh tự học và thảo luận.

Thứ hai, học sinh đối mặt với rào cản tâm lý nặng nề và thiếu kỹ năng lập luận độc lập. Số liệu khảo sát 228 học sinh chỉ ra rằng có 74,5% học sinh không bao giờ chủ động đặt câu hỏi cho thầy cô; 38,5% cảm thấy thiếu tự tin và 15,4% lo lắng, sợ hãi khi phải chất vấn ngược lại giáo viên. Ngoài ra, có 38,2% học sinh cảm thấy lúng túng khi phải trả lời câu hỏi và 29,4% gặp khó khăn lớn khi phải thuyết trình, bảo vệ quan điểm trước đám đông.

Thứ ba, sự thiếu hụt cơ hội thể hiện chính kiến trong không gian lớp học. Có đến 39% học sinh cho biết chỉ thỉnh thoảng và 34,2% khẳng định không bao giờ được bày tỏ quan điểm, đánh giá riêng trong các tiết học văn. Số học sinh thường xuyên và rất thường xuyên được nói lên tiếng nói cá nhân chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn lần lượt là 20,2% và 6,6%.

Thứ tư, tiềm năng tiếp nhận tác phẩm văn học sau năm 1975 là cực kỳ to lớn nhưng chưa được khai phóng. Khảo sát ghi nhận 70,6% học sinh thể hiện niềm yêu thích và hứng thú đối với các truyện ngắn thời kỳ đổi mới như Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu và Một người Hà Nội của Nguyễn Khải. Đồng thời, 70,1% giáo viên hoàn toàn tin tưởng vào khả năng tư duy phản biện của học sinh nếu được hướng dẫn đúng phương pháp. Tuy nhiên, 42,1% học sinh phản ánh rằng nhà trường hiện nay chủ yếu mới chỉ chú trọng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ thuần túy, trong khi tỷ lệ rèn luyện tư duy phản biện chỉ đạt mức 17,1%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của thực trạng trên bắt nguồn từ áp lực thi cử nặng nề, lối học thuộc lòng theo văn mẫu và quán tính truyền thống xem lời thầy cô là chân lý tuyệt đối. Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp qua bảng phân tích tần suất và biểu đồ cột so sánh tương quan giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng đã phản ánh sự vượt trội rõ rệt của phương pháp mới. Ở các lớp thực nghiệm, tỷ lệ học sinh đạt mức độ phản biện tích cực, biết sử dụng lý lẽ và bằng chứng xác đáng để bảo vệ quan điểm đã tăng vọt so với nhóm đối chứng chỉ học theo phương pháp truyền thống.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của các chuyên gia phương pháp dạy học, luận văn đã tiến một bước dài khi chứng minh rằng: Văn học sau 1975 không cung cấp những câu trả lời đóng khung mà luôn mời gọi đối thoại dân chủ. Điển hình như nghịch lý người đàn bà hàng chài khước từ lời khuyên bỏ chồng của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa, hay cách ứng xử văn hóa đầy tỉnh táo của bà Hiền trong Một người Hà Nội. Việc đưa học sinh vào các tình huống tranh luận giúp giải phóng tư duy nhị nguyên đúng - sai đơn giản, hình thành cái nhìn thế sự đa chiều và phát triển năng lực tư duy bậc cao một cách bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực nghiệm sư phạm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá nhằm phát triển năng lực tư duy phản biện cho học sinh THPT:

Thứ nhất, tổ chức cho học sinh tự tìm kiếm, chọn lọc và thẩm định nguồn thông tin liên quan đến bài học ngoài không gian lớp học. Giáo viên bộ môn phân chia lớp thành 4 nhóm chuyên trách, hướng dẫn học sinh khai thác tài liệu đa chiều từ thư viện và Internet, sau đó thiết kế bài thuyết trình báo cáo. Mục tiêu đặt ra là 100% học sinh được rèn luyện kỹ năng thu thập, sàng lọc thông tin và biết đặt câu hỏi chất vấn chéo giữa các nhóm, thực hiện đều đặn trong 2 tuần chuẩn bị trước mỗi chủ đề bài học.

Thứ hai, thiết kế và vận hành hệ thống 4 dạng tình huống có vấn đề trong giờ dạy đọc hiểu văn bản, bao gồm: tình huống lựa chọn, tình huống phản bác, tình huống bất ngờ và tình huống giả định. Giáo viên trực tiếp áp dụng phương pháp này để tạo môi trường đối thoại bình đẳng, nâng tỷ lệ học sinh tham gia tranh luận sôi nổi và tự tin trình bày lập luận cá nhân lên trên 65% trong từng học kỳ.

Thứ ba, đổi mới hệ thống câu hỏi, bài tập đọc hiểu theo hướng kích hoạt tư duy phản biện phân tầng. Giáo viên Ngữ văn cần giảm tỷ lệ câu hỏi tái hiện kiến thức đóng, tăng cường các câu hỏi mở đòi hỏi thao tác so sánh, đánh giá, phát hiện mâu thuẫn nghệ thuật; phấn đấu cắt giảm thời lượng thuyết trình thụ động của giáo viên xuống dưới mức 20% trong mỗi tiết học ngay trong học kỳ I.

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình dạy học 3 giai đoạn và áp dụng bộ tiêu chí đánh giá năng lực tư duy phản biện gồm 5 mức độ rõ ràng. Ban giám hiệu và tổ chuyên môn các trường THPT cần chỉ đạo áp dụng khung rubric đánh giá này vào 100% các bài kiểm tra định kỳ và đánh giá thường xuyên từ năm học 2017 - 2018 trở đi, bảo đảm việc đánh giá kết quả học tập bám sát năng lực thực chất của học sinh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng trọng tâm trong ngành giáo dục:

Nhóm thứ nhất là giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông. Thầy cô có thể khai thác trực tiếp hệ thống giáo án thực nghiệm mẫu, quy trình 3 bước xử lý tình huống có vấn đề và bộ câu hỏi mở để nâng cao hơn 50% mức độ tương tác, biến giờ học văn thành diễn đàn trao đổi học thuật sôi nổi.

Nhóm thứ hai là sinh viên sư phạm, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn. Luận văn cung cấp nguồn tài liệu tham khảo quý giá với hệ thống lý thuyết chuẩn hóa từ hơn 40 tài liệu uy tín trong nước và quốc tế, cùng phương pháp luận xử lý số liệu thực chứng trên 286 mẫu khảo sát.

Nhóm thứ ba là cán bộ quản lý giáo dục, hiệu trưởng và chuyên viên phụ trách chuyên môn tại các Phòng và Sở Giáo dục và Đào tạo. Đây là căn cứ thực tiễn quan trọng để xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ giáo viên, đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng tiếp cận năng lực của Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Nhóm thứ tư là học sinh lớp 12 và các thí sinh ôn thi học sinh giỏi quốc gia, thi tốt nghiệp THPT. Tài liệu giúp các em tiếp cận phương pháp đọc hiểu văn bản hiện đại, rèn luyện tư duy logic để bứt phá đạt điểm 8.0 trở lên trong các câu hỏi nghị luận xã hội và nghị luận văn học yêu cầu góc nhìn đa chiều.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao mảng truyện ngắn Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 lại có ưu thế vượt trội trong việc rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh?

Truyện ngắn sau năm 1975 chuyển mạnh từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự đời tư, mang tính chất mở và kết cấu đa điểm nhìn. Các nghịch lý cuộc sống trong tác phẩm như việc người đàn bà hàng chài cam chịu bạo lực gia đình trong Chiếc thuyền ngoài xa buộc 100% học sinh phải suy ngẫm, tranh luận đa chiều thay vì phán xét một chiều theo định kiến đạo đức đơn thuần.

Nguyên nhân chính khiến hơn 74% học sinh THPT không bao giờ đặt câu hỏi cho giáo viên trong giờ học Ngữ văn là gì?

Theo số liệu điều tra trên 228 học sinh lớp 12, nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ áp lực thi cử chuộng văn mẫu và tâm lý e ngại giáo viên chiếm tới 38,5%. Thói quen tiếp nhận thụ động trong nhiều năm đã hình thành sức ỳ lớn, khiến học sinh lo sợ bị đánh giá sai khi đưa ra ý kiến khác biệt với bài giảng của thầy cô.

Làm thế nào để xây dựng một tình huống giả định hiệu quả nhằm kích hoạt phản biện của học sinh trong giờ đọc hiểu?

Giáo viên có thể đặt ra tình huống giả định theo phương pháp thử và sai. Ví dụ: Nếu nhà văn không để nhân vật bé Phác xuất hiện khi người cha đánh mẹ, thông điệp nghệ thuật của tác phẩm sẽ thay đổi ra sao? Câu hỏi này lập tức kích thích 100% học sinh tư duy đối chiếu, phân tích vai trò của nhân vật và xây dựng lập luận vững chắc để bảo vệ quan điểm.

Việc tăng cường tư duy phản biện có làm giảm đi tính cảm xúc và năng lực cảm thụ thẩm mỹ đặc trưng của môn Văn không?

Hoàn toàn không. Tư duy phản biện giúp học sinh vượt qua sự xúc cảm hời hợt để chạm tới chiều sâu nhân bản của tác phẩm. Thực tế khảo sát cho thấy khi được tự do tranh biện, có 70,6% học sinh cảm thấy yêu thích tác phẩm sâu sắc hơn, bởi các em được tự mình khám phá và kiến tạo nên giá trị thẩm mỹ đích thực.

Giáo viên cần chuẩn bị những gì để tổ chức thành công một tiết dạy học phân hóa và phát triển năng lực phản biện?

Giáo viên cần chuyển dịch vai trò từ người truyền thụ độc tôn sang người thiết kế, cố vấn và điều phối dân chủ. Bên cạnh đó, nhà trường cần tạo điều kiện trang bị phương tiện công nghệ thông tin phục vụ thuyết trình nhóm và thống nhất bảng rubric đánh giá 5 mức độ phản biện để tạo động lực công bằng cho 100% học sinh tham gia.

Kết luận

Nghiên cứu của luận văn thạc sĩ đã mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn mang tính bước ngoặt cho phương pháp dạy học Ngữ văn:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về năng lực tư duy phản biện trong tiếp nhận văn chương dựa trên các khung chuẩn học thuật quốc tế.
  • Khảo sát thực chứng chỉ rõ mâu thuẫn giữa 88% giáo viên nhận thức tầm quan trọng của phản biện với 74,5% học sinh hoàn toàn thụ động trong giờ học.
  • Khẳng định ưu thế nghệ thuật của truyện ngắn sau năm 1975 trong việc khơi dậy các luồng ý kiến đối thoại dân chủ và đa thanh.
  • Đề xuất thành công quy trình sư phạm 3 bước và hệ thống 4 dạng tình huống có vấn đề giàu tính khả thi cho chương trình lớp 12.
  • Xây dựng bộ công cụ tiêu chí đánh giá năng lực phản biện định lượng, giúp giáo viên dễ dàng đo lường sự tiến bộ của người học.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp một giải pháp sư phạm hoàn chỉnh, giải quyết triệt để sự bế tắc của lối dạy học truyền thống một chiều, mở đường cho việc phát triển tư duy bậc cao cho học sinh phổ thông. Kế hoạch tiếp theo là tiếp tục hoàn thiện và chuyển giao mô hình thực nghiệm đến 100% các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nam Định trong lộ trình 12 tháng tới. Các nhà trường và giáo viên Ngữ văn hãy chủ động áp dụng ngay quy trình dạy học tình huống có vấn đề để kiến tạo môi trường học đường khai phóng, đào tạo nên những thế hệ công dân bản lĩnh, sáng tạo và làm chủ tương lai.