CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề chung về tư duy 1. Khái niệm tư duy Con người chúng ta luôn luôn suy nghĩ về những vấn đề khác nhau, và chẳng thể nào có thể chặn dòng suy nghĩ của họ lại. Hơn thế, họ còn không ngừng sáng tạo ra thế giới mới: Thế giới về nghệ thuật, công nghệ, khoa học, âm nhạc,.
Decac [15] đã nói rằng: “Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại”. Để cuộc sống của chúng ta có ý, để nhận thức thế giới và suy nghĩ về sự tồn tại của bản thân mỗi chúng ta thì con người luôn cố gắng rèn luyện mỗi ngày. Chỉ có con người mới có khả năng tư duy, tư duy đã mang lại cho chúng ra một vị trí đáng kính nể trong quá trình tiến hóa. Tư duy là quá trình tâm lý cấp cao.
Bản chất của tư duy là tìm ra những tri thức mới trên cơ sở phản ánh và biến đổi thực hiện một cách sáng tạo. Theo [15, tr 139]: “Tư duy là quá trình nhận thức gián tiếp và khái quát, nhằm khám phá những thuộc tính bản chất, những mỗi quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan và biến đổi chúng theo mục đích của con người”. Theo Edward de Bono (2005), người được mệnh danh là cha đẻ của “Tư duy về tư duy”, một trong những nhà khoa học bậc thầy của tư duy, đã nói rằng: “Tư duy là kỹ năng vận hành bộ não, nhờ đó trí thông minh mới được nuôi dưỡng và phát triển” Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam tập 4 định nghĩa về tư duy: "Tư duy và sản phẩm cao nhất của vật chất, được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người dưới dạng khái niệm, sự phán đoán, lý luận." Nói tóm lại tư duy là quá trình từ không biết đến biết, từ tri thức cũ đến tri thức mới. Tri thức mới có thể là những phát hiện về phương pháp mới, quy luật mới của thế giới, thuộc tính mới, với những sản phẩm mới của con người tạo ra.
Con người tư duy để khám phá thế giới xung quanh, khám phá chính bản thân mình, để điều khiển hành vi, hoạt động của 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mình, và biến đổi thế giới. Tư duy giúp con người thích ứng một cách hiệu quả với những thay đổi của điều kiện sống và cải tạo thế giới. Đặc điểm của tư duy Tư duy có một số đặc điểm sau: − Tính khái quát: Tư duy có khả năng khái quát những sự vật hiện tượng riêng lẻ, nhưng có những thuộc tính chung thành một nhóm, một loại, hoặc một phạm trù. − Tính gián tiếp: Tư duy con người không chỉ có khả năng nhận thức một cách gián tiếp mà có khả năng nhận thức thế giới một cách trực tiếp.
Tính gián tiếp không chỉ đào sâu mà còn mở rộng các thông tin con người tìm hiểu. Trong quá trình tư duy, chúng ra nhận thức được những điều mà nhận thức cảm tính không thể nhận biết được. − Tính có vấn đề: Tư duy chỉ xuất hiện khi gặp những tình huống, hoàn cảnh có vấn đề mà chúng ta phải giải quyết. Muốn giải quyết con người cần phải tư duy để tìm ra cách thức, phương pháp giải quyết mới.
− Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ mật thiết, gắn liền với nhau. Để diễn ra quá trình tư duy của con người thì phải có ngôn ngữ, khi đó các sản phẩm của tư duy mới được chủ thể và người khác tiếp nhận. Các thao tác của tư duy Các thao tác tư duy cơ bản: − So sánh: Xác định những đặc điểm giống và khác nhau giữa các hiện tượng và sự vật. − Phân tích và tổng hợp: Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành các thành phần, các bộ phận khác nhau nhằm tìm hiểu rõ hơn cấu trúc của chúng.
Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để gắn kết, sắp xếp các thành phần, bộ phận của sự vật hiện tượng đã được tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể. Theo [15]: Phân tích và tổng hợp có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành thể thống nhất không thể tách rời: sự tổng hợp được thực hiện theo kết quả của phân tích, còn sự phân tích được tiến hành theo hướng tổng hợp. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com − Trừu tượng hóa và khái quát hóa: Theo [15, Tr.146]: Trừu tượng hóa là dùng trí óc gạt bớt những chi tiết, những phần, những tính chất không cần thiết của sự vật hiện tượng để làm rõ những dấu hiệu bản chất của nó. Khái quát hóa là dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung nhất định.
− Quy nạp và diễn dịch: Theo [15, Tr.148]: Quy nạp là thao tác chuyển từ các trường hợp riêng lẻ thành một nhận thức chung bao quát cho các trường hợp riêng. Diễn dịch đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người. Quá trình tư duy Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của hiện tượng và sự vật trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa từng biết.P Latonov [13] đã tóm tắt các giai đoạn của quá trình tư duy bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Quá trình tư duy của K.P Latonov NHẬN THỨC VẤN ĐỀ XUẤT HIỆN CÁC LIÊN TƯỞNG SÀNG LỌC LIÊN TƯỞNG, HÌNH THÀNH GIẢ THUYẾT KIỂM TRA GIẢ THUYẾT CHÍNH XÁC KHẲNG ĐỊNH PHỦ ĐỊNH HÓA GIẢ THUYẾT GIẢ THUYẾT GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ HÀNH ĐỘNG TƯ DUY MỚI 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư duy là hoạt động trí tuệ với một quá trình bao gòm 4 bước cơ bản sau: − Xác định được vấn đề và biểu đạt được nó thành nhiệm vụ tư duy.
Hay nói cách khác là tìm được câu hỏi cần giải đáp. − Huy động vốn kinh nghiệm, tri thức, liên tưởng, hình thành giả thiết về cách trả lời câu hỏi, cách giải quyết vấn đề. − Xác minh giả thiết trong thực tiễn, nếu giả thiết không đúng ta chuyển sang bước sau, còn nếu sai thì phủ định nó và hình thành giả thiết mới. − Quyết định đưa ra sử dụng và đánh giá kết quả.
Các loại hình tư duy Trong quá trình dạy học Toán học, học sinh có thể được trang bị và rèn luyện các loại tư duy sau: − Tư duy biện chứng: Tất cả các hiện tượng đều xảy ra theo một quy luật biện chứng, việc rèn luyện tư duy biện chứng cho học sinh cũng là nhiệm vụ quan trọng của môn học. − Tư duy độc lập: Trong quá trình học tập và rèn luyện, tư duy độc lập đối với học sinh rất quan trọng và cần thiết, học sinh có thể rèn tư duy độc lập khi thực hiện các nhiệm vụ vừa sức với mình. Điều này sẽ tạo hứng thú cho học sinh đồng thời tạo điều kiện để học sinh nắm bắt vấn đề một cách tự nhiên theo đúng quy luật của quá trình nhận thức. Dạy học theo dự án hoặc dạy học theo modun cũng là cách mà giáo viên rèn cho học sinh cách tư duy độc lập.
− Tư duy logic: Tư duy logic là một trong những kĩ năng quan trọng không thể thiếu trong việc lĩnh hội các môn khoa học tự nhiên. − Tư duy trừu tượng: Hiện nay với sự giúp sức của công nghệ thông tin, quá trình tạo tư duy trừu tượng cho học sinh được dễ dàng hơn. Phát triển tư duy trừu tượng cho học sinh là một việc quan trọng và cần thiết, làm thế nào để học sinh tư duy đúng bản chất của quá trình, hiện tượng là điều quan trọng. − Tư duy phản biện: Tư duy phản biện được phát triển và hình thành qua quá trình rèn luyện trí tuệ về các khả năng: phân tích, tổng quan và 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tổ chức hệ thống các ý tưởng, so sánh điểm tương đồng và khác biệt, nhận thức và cân nhắc thận trọng một hiện tượng, một sự kiện, lập luận và chứng minh đầy đủ để có sức thuyết phục cao.
− Tư duy sáng tạo: Đây là một hình thức tư duy cao nhất trong quá trình tư duy, việc sáng tạo giúp cho người học không gò bó trong không gian tri thức của người thầy đặt ra. Các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo đó là tính nhuần nhuyễn, tính mềm dẻo, tính độc đáo. Các bước của quá trình sáng tạo được thực hiện qua 5 giai đoạn sau: Kích thích, khám phá, lập kế hoạch, hoạt động, tổng kết. Tư duy phản biện là gì? Tư duy là bản tính tự nhiên của con người.
Nếu không rèn luyện phần lớn tư duy của chúng ta sẽ bị thiên lệch, rời rạc, hoặc bị biến mất. Tư duy tốt sẽ tạo ra chất lượng cuộc sống tốt, ngược lại tư duy kém sẽ tạo ra chất lượng cuộc sống kém. Để có tư duy tốt thì tư duy của chúng ta phải được rèn luyện, xây đắp một cách có hệ thống. Tư duy phản biện có nhiều định nghĩa khác nhau.
Chẳng hạn: − Theo Chance (1986) [8]: Tư duy phản biện là năng lực phân tích sự việc, hình thành và sắp xếp các ý tưởng, bảo vệ ý kiến, so sánh, rút ra các kết luận, đánh giá các lập luận, giải quyết vấn đề. − Theo báo cáo Tương lai của các nghề nghiệp năm 2018 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới [18] thì tư duy phản biện được định nghĩa như sau: Sử dụng lập luận và logic để nhận ra điểm yếu, điểm mạnh của các kết luận, giải pháp, cách tiếp cận khác nhau đối với các vấn đề. − Richard Paul [10] phát biểu về tư duy phản biện từ một góc nhìn khác: Tư duy phản biện là một mô hình tư duy – về một chủ đề, một vấn đề, một nội dung bất kỳ - trong đó chủ thể tư duy cải tiến chất lượng tư duy của mình bằng việc điều khiểu một cách thành thạo các cấu trúc nền tảng có sẵn của tư duy và áp đặt các tiêu chuẩn của hành động trí tuệ lên quá trình tư duy của mình. Tóm lại, tư duy phản biện là tư duy tự định hướng, tự giác, tự giám sát và tự hiệu chỉnh.
Nó đòi hỏi những chuẩn mực nghiêm ngặt về sự xuất sắc và kiểm soát việc sử dụng chúng một cách tỉnh thức. Nó sẽ mang lại 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.