Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Cho Học Sinh Lớp 9 Thông Qua Dạy Học Chủ Đề Phương Trình Bậc Hai

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu cải thiện năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 9 thông qua dạy học chủ đề phương trình bậc hai, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2019

124
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Câu hỏi nghiên cứu

1.6. Giả thuyết khoa học

1.7. Phương pháp nghiên cứu

1.8. Những đóng góp của luận văn

1.9. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Các vấn đề chung về tư duy

1.1.1. Khái niệm tư duy

1.1.2. Các giai đoạn của tư duy

1.1.3. Các thao tác tư duy

1.1.4. Những đặc điểm của tư duy

1.1.5. Tư duy trong học tập toán học

1.2. Các vấn đề về tư duy sáng tạo

1.2.1. Khái niệm về sáng tạo

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 9 THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHƯƠNG TRÌNH BẬC HAI

2.1. Chủ đề phương trình bậc hai ở trường Trung học cơ sở

2.2. Nội dung chủ đề phương trình bậc hai

2.3. Mục tiêu dạy chủ đề phương trình bậc hai

2.4. Phương hướng bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua môn Toán

2.5. Một số biện pháp góp phần phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh qua dạy chủ đề phương trình bậc hai

2.5.1. Rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản

2.5.2. Khuyến khích học sinh tìm nhiều lời giải cho một bài toán và lựa chọn được cách giải quyết tối ưu nhất

2.5.3. Sử dụng các bài toán chứa đựng yếu tố sai lầm trong cách giải của học sinh, tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục

2.5.4. Rèn luyện cho học sinh sử dụng phương trình bậc hai để giải các bài toán khác

2.5.5. Tăng cường cho học sinh giải các bài toán có nội dung thực tế để hình thành động cơ sáng tạo cho học sinh

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm

3.1.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.2. Tổ chức và nội dung thực nghiệm sư phạm

3.2.1. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

3.2.2. Giáo án thực nghiệm sư phạm

3.2.3. Bài kiểm tra so sánh trình độ học sinh sau khi thực nghiệm

3.2.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm

3.2.5. Cơ sở để đánh giá kết quả thực nghiệm

3.2.6. Đánh giá định tính

3.2.7. Đánh giá định lượng

3.2.8. Ý kiến đánh giá của giáo viên và học sinh

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Toán Lớp 9

Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 9 là mục tiêu quan trọng trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Nghị quyết Trung ương 8 khóa 11 nhấn mạnh việc chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất người học. Tư duy sáng tạo giúp học sinh chủ động, độc lập, tích cực, biết nhận dạng vấn đề và đặt câu hỏi. Trong môn Toán, điều này thể hiện qua việc tìm tòi lời giải khác nhau, sáng tạo bài toán mới, và vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề thực tế. Giáo viên cần xây dựng bài tập và phương pháp giảng dạy phù hợp để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Theo Nguyễn Cảnh Toàn, “Sáng tạo là sự vận động của tư duy từ những hiểu biết đã có đến những hiểu biết mới”.

1.1. Tầm quan trọng của tư duy sáng tạo trong toán học

Toán học là môn học đòi hỏi tư duy logic cao. Việc phát triển tư duy sáng tạo giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn biết cách vận dụng linh hoạt. Học sinh có khả năng tìm ra nhiều cách giải cho một bài toán, từ đó phát triển khả năng tư duy phản biệnkỹ năng giải quyết vấn đề. Điều này tạo nền tảng vững chắc cho việc học tập và nghiên cứu sau này.

1.2. Mối liên hệ giữa tư duy sáng tạo và chương trình toán lớp 9

Chương trình toán lớp 9 cung cấp nhiều cơ hội để phát triển tư duy sáng tạo. Các chủ đề như phương trình bậc hai, hình học không gian, và thống kê đều có thể được khai thác để khuyến khích học sinh tìm tòi, khám phá. Giáo viên cần thiết kế các hoạt động học tập sao cho học sinh được tự do thể hiện ý tưởng và khuyến khích sáng tạo.

II. Thách Thức Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Toán Học Sinh

Việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 9 gặp nhiều thách thức. Phương pháp dạy học truyền thống thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức một chiều, ít tạo cơ hội cho học sinh tự do khám phá và sáng tạo. Áp lực về điểm số và kỳ thi cũng khiến học sinh và giáo viên ưu tiên việc học thuộc công thức và giải bài tập theo khuôn mẫu. Môi trường học tập chưa đủ cởi mở và khuyến khích sự khác biệt cũng là một rào cản lớn. Theo khảo sát, nhiều giáo viên thừa nhận gặp khó khăn trong việc thiết kế các hoạt động dạy học sáng tạo.

2.1. Hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống

Phương pháp dạy học truyền thống thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức một chiều, ít tạo cơ hội cho học sinh tự do khám phá và sáng tạo. Học sinh thường thụ động tiếp thu kiến thức và giải bài tập theo khuôn mẫu, ít có cơ hội phát triển tư duy độc lậptư duy phản biện. Điều này làm giảm hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của học sinh.

2.2. Áp lực thi cử và điểm số ảnh hưởng tư duy sáng tạo

Áp lực về điểm số và kỳ thi khiến học sinh và giáo viên ưu tiên việc học thuộc công thức và giải bài tập theo khuôn mẫu. Thời gian trên lớp thường được sử dụng để luyện tập các dạng bài tập quen thuộc, ít có thời gian cho các hoạt động kích thích tư duygiải toán sáng tạo. Điều này làm hạn chế khả năng phát triển tư duy sáng tạo của học sinh.

2.3. Môi trường học tập chưa khuyến khích sáng tạo

Môi trường học tập chưa đủ cởi mở và khuyến khích sự khác biệt cũng là một rào cản lớn. Học sinh thường sợ sai và ngại đưa ra ý kiến khác biệt. Giáo viên cần tạo ra một môi trường học tập an toàn, nơi học sinh được tự do thể hiện ý tưởng và khuyến khích sáng tạo mà không sợ bị phán xét.

III. Phương Pháp Dạy Phương Trình Bậc Hai Khơi Gợi Sáng Tạo

Để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 9 qua dạy học phương trình bậc hai, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm nhiều lời giải cho một bài toán, sử dụng các bài toán chứa đựng yếu tố sai lầm, và tăng cường giải các bài toán có nội dung thực tế. Việc rèn luyện các thao tác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, và khái quát hóa cũng rất quan trọng. Theo luận văn, cần “Rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản”.

3.1. Khuyến khích tìm nhiều lời giải cho một bài toán

Khuyến khích học sinh tìm nhiều lời giải cho một bài toán là một cách hiệu quả để phát triển tư duy sáng tạo. Khi học sinh tìm ra nhiều cách giải, họ sẽ hiểu sâu hơn về bản chất của vấn đề và phát triển khả năng tư duy linh hoạt. Giáo viên nên tạo điều kiện cho học sinh chia sẻ và thảo luận các cách giải khác nhau.

3.2. Sử dụng bài toán chứa đựng yếu tố sai lầm

Sử dụng các bài toán chứa đựng yếu tố sai lầm trong cách giải giúp học sinh phát triển tư duy phản biệnkỹ năng giải quyết vấn đề. Khi học sinh phát hiện ra sai lầm và tìm ra nguyên nhân, họ sẽ hiểu rõ hơn về các khái niệm và quy tắc toán học. Giáo viên nên khuyến khích học sinh tự sửa sai và giải thích lý do.

3.3. Tăng cường giải bài toán có nội dung thực tế

Tăng cường cho học sinh giải các bài toán có nội dung thực tế giúp hình thành động cơ sáng tạo. Khi học sinh thấy được ứng dụng của phương trình bậc hai trong cuộc sống, họ sẽ có hứng thú học tập hơn và phát triển khả năng tư duy ứng dụng. Giáo viên nên sử dụng các ví dụ thực tế để minh họa các khái niệm và quy tắc toán học.

IV. Rèn Luyện Thao Tác Tư Duy Cơ Bản Giải Phương Trình

Rèn luyện các thao tác tư duy cơ bản là yếu tố then chốt để phát triển tư duy sáng tạo. Các thao tác như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, và khái quát hóa giúp học sinh hiểu sâu hơn về bản chất của vấn đề và tìm ra các giải pháp sáng tạo. Giáo viên cần thiết kế các hoạt động học tập sao cho học sinh được thực hành các thao tác tư duy này một cách thường xuyên và có hệ thống. Theo tâm lý học, “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất”.

4.1. Phân tích và tổng hợp trong giải phương trình bậc hai

Phân tích là quá trình chia nhỏ bài toán thành các phần nhỏ hơn để dễ dàng giải quyết. Tổng hợp là quá trình kết hợp các phần nhỏ lại để tạo thành một giải pháp hoàn chỉnh. Khi giải phương trình bậc hai, học sinh cần phân tích các yếu tố của phương trình và tổng hợp chúng để tìm ra nghiệm.

4.2. So sánh và trừu tượng hóa trong toán học

So sánh là quá trình tìm ra sự giống và khác nhau giữa các bài toán. Trừu tượng hóa là quá trình loại bỏ các yếu tố không cần thiết để tập trung vào các yếu tố quan trọng. Khi học phương trình bậc hai, học sinh cần so sánh các dạng phương trình khác nhau và trừu tượng hóa các quy tắc giải.

4.3. Khái quát hóa và ứng dụng phương trình bậc hai

Khái quát hóa là quá trình tìm ra các quy tắc chung từ các trường hợp cụ thể. Khi học phương trình bậc hai, học sinh cần khái quát hóa các quy tắc giải và áp dụng chúng vào các bài toán khác nhau. Điều này giúp học sinh phát triển tư duy logickhả năng tư duy trừu tượng.

V. Ứng Dụng Thực Tế Phương Trình Bậc Hai Phát Triển Sáng Tạo

Việc ứng dụng phương trình bậc hai vào giải quyết các bài toán thực tế là một cách hiệu quả để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 9. Giáo viên nên sử dụng các ví dụ thực tế để minh họa các khái niệm và quy tắc toán học. Các bài toán về tính diện tích, thể tích, và các vấn đề liên quan đến kinh tế, kỹ thuật đều có thể được sử dụng để tạo ra các tình huống học tập sáng tạo. Theo luận văn, cần “Tăng cường cho học sinh giải các bài toán có nội dung thực tế”.

5.1. Bài toán thực tế về diện tích và thể tích

Các bài toán về tính diện tích và thể tích là những ví dụ điển hình về ứng dụng thực tế của phương trình bậc hai. Học sinh có thể sử dụng phương trình bậc hai để giải các bài toán về tính diện tích hình chữ nhật, hình vuông, và thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương.

5.2. Ứng dụng phương trình bậc hai trong kinh tế

Phương trình bậc hai có thể được sử dụng để giải các bài toán về tối ưu hóa lợi nhuận, chi phí, và doanh thu. Học sinh có thể sử dụng phương trình bậc hai để tìm ra mức giá tối ưu để bán sản phẩm hoặc dịch vụ.

5.3. Ứng dụng phương trình bậc hai trong kỹ thuật

Phương trình bậc hai có thể được sử dụng để giải các bài toán về thiết kế cầu, đường, và các công trình xây dựng khác. Học sinh có thể sử dụng phương trình bậc hai để tính toán các thông số kỹ thuật cần thiết.

VI. Kết Luận Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Toán Học Sinh

Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 9 thông qua dạy học phương trình bậc hai là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự nỗ lực của cả giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, với các phương pháp dạy học tích cực và sự khuyến khích sáng tạo, học sinh có thể phát triển khả năng tư duykỹ năng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Việc tiếp tục nghiên cứu và đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ra những thế hệ học sinh sáng tạo, năng động, và có khả năng đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.

6.1. Tóm tắt các phương pháp phát triển tư duy sáng tạo

Các phương pháp phát triển tư duy sáng tạo bao gồm khuyến khích tìm nhiều lời giải, sử dụng bài toán chứa đựng yếu tố sai lầm, tăng cường giải bài toán thực tế, và rèn luyện các thao tác tư duy cơ bản. Giáo viên cần linh hoạt áp dụng các phương pháp này để phù hợp với từng đối tượng học sinh.

6.2. Hướng phát triển tư duy sáng tạo trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và đổi mới phương pháp dạy học để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Việc tích hợp công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình dạy học cũng là một hướng đi tiềm năng. Ngoài ra, cần tạo ra một môi trường học tập cởi mở và khuyến khích sự khác biệt để học sinh tự do thể hiện ý tưởng và khuyến khích sáng tạo.

08/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các vấn đề chung về tư duy 1. Khái niệm tư duy Tƣ duy là một vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của nhiều nghành khoa học và nhiều nhà khoa học nghiên cứu.

Ở mỗi lĩnh vực khoa học, tƣ duy đƣợc nghiên cứu theo các góc độ khác nhau. Từ điển Tiếng Việt nêu rõ: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý” [23]. Theo từ điển Triết học: “Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận” [26]. Theo Tâm lý học: “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết” [5].

Ở Việt Nam, với tƣ cách xem tƣ duy là quá trình nhận thức, tập thể tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Hoàng Mộc Loan trong cuốn Tâm lý học đã viết “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất những mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính chất quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết” [32]. Qua việc phân tích một số quan niệm về tƣ duy nhƣ trên, tác giả hiểu định nghĩa của tƣ duy nhƣ sau: “Tƣ duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp là khái quát, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng mà ta chƣa từng biết. Các giai đoạn của tư duy Để dễ hình dung 4 bƣớc trong quá trình tƣ duy, nhà tâm lí học K. Platonop có bảng sơ đồ hoá nhƣ sau NhËn thøc vÊn ®Ò C©u hái XuÊt hiÖn c¸c liªn t-ëng Sµng läc c¸c liªn t-ëng vµ h×nh thµnh gi¶ Gi¶ thuyÕt thuyÕt KiÓm tra gi¶ thuyÕt Kh¼ng ®Þnh Phñ ®Þnh X¸c minh T×m gi¶ thuyÕt ChÝnh x¸c hãa míi QuyÕt ®Þnh Gi¶i quyÕt vÊn Hµnh ®éng t- ®Ò duy míi Sơ đồ 1.

Quá trình tư duy (Nguồn: Dẫn theo Nguyễn Văn Thuận 2004) Số lƣợng các giai đoạn có thể không cần đầy đủ trong những trƣờng hợp nhất định, nhƣng thứ tự các giai đoạn phải tuân thủ theo sơ đồ. Các thao tác tƣ duy có quan hệ mật thiết với nhau, thống nhất theo một hƣớng nhất định, do nhiệm vu tƣ duy quy định. Trong thực tế các thao tác tƣ duy đan chéo với nhau, chứ không theo một trình tự máy móc nhƣ trên. Các thao tác tư duy Tính giai đoạn của tƣ duy mới chỉ phản ánh đƣợc cấu trúc bên ngoài của tƣ duy, còn nội dung bên trong của mỗi giai đoạn trong hành động tƣ duy lại là một quá trình diễn ra trên cơ sở những thao tác tƣ duy.

Theo các kết quả nghiên cứu trong tâm lý học, tƣ duy diễn ra thông qua các thao tác sau - Phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tƣợng nhận thức thành các bộ phận khác nhau từ đó vạch ra đƣợc những thuộc tính, những đặc điểm của đối tƣợng nhận thức hay xác định các bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể đƣợc tƣờng minh. - Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất, sắp xếp hay kết hợp những bộ phận, những thành phần, những thuộc tính của đối tƣợng nhận thức đã đƣợc tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể để từ đó nhận thức đối tƣợng một cách bao quát, toàn diện hơn. Trong tƣ duy, tổng hợp là thao tác đƣợc xem là mang dấu ấn sáng tạo. - So sánh - tư ng tự: là thao tác tƣ duy nhằm xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hiện tƣợng của hiện thực.

Nhờ so sánh ngƣời ta có thể tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật. - Trừu tượng hoá: trừu tƣợng hoá là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, và chỉ giữ lại những yếu tố đặc trƣng, bản chất của đối tƣợng nhận thức. - Khái quát hoá: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tƣợng. Tóm lại, các thao tác tƣ duy cơ bản đƣợc xem nhƣ quy luật bên trong của mỗi hành động tƣ duy.

Trong thực tế tƣ duy, các thao tác đan chéo vào nhau mà không theo trình tự máy móc. Tuy nhiên, tùy theo từng nhiệm vụ tƣ duy, điều kiện tƣ duy, không phải mọi hành động tƣ duy cũng nhất thiết phải thực hiện tất cả các thao tác trên. Những đặc điểm của tư duy Tƣ duy là một mức độ của hoạt động nhận thức, tƣ duy có những đặc điểm sau * Tính có vấn đề của tư duy - Tƣ duy chỉ xuất hiện khi gặp những hoàn cảnh, tình huống có vấn đề. Muốn giải quyết vấn đề đó con ngƣời phải tìm cách thức giải quyết mới.

Tức là con ngƣời phải tƣ duy. - Không phải bất cứ hoàn cảnh nào tƣ duy cũng xuất hiện. Vấn đề chỉ trở nên "tình huống có vấn đề" khi chủ thể nhận thức đƣợc tình huống có vấn đề, nhận thức đƣợc mâu thuẫn chứa đựng trong vấn đề, chủ thể phải có nhu cầu giải quyết và phải có những tri thức liên quan đến vấn đề. Chỉ trên cơ sở đó tƣ duy mới xuất hiện.

* Tính gián tiếp của tư duy Tƣ duy giúp ta nhận thức về những đặc điểm bên trong, những đặc điểm bản chất mà các giác quan không phản ánh đƣợc, mang lại những nhận thức thông qua các dấu hiệu gián tiếp. Tính gián tiếp của tƣ duy đƣợc thể hiện ở chỗ, trong quá trình tƣ duy con ngƣời sử dụng những công cụ, phƣơng tiện (nhƣ đồng hồ, nhiệt kế, máy móc…) để nhận thức đối tƣợng mà không thể trực tiếp tri giác chúng. * Tính trừu tượng và khái quát của tư duy Trừu tƣợng là dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho tƣ duy. Khái quát là dùng tri óc để hợp nhất nhiều đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, một loại, một phạm trù theo những thuộc tính, liên hệ, quan hệ chung nhất định.

Cả hai có mối liên hệ mật thiết với nhau ở mức độ cao. Nhờ có đặc điểm này mà con ngƣời không chỉ giải quyết đƣợc những nhiệm vụ hiện tại mà còn có thể giải quyết đƣợc những nhiệm vụ của tƣơng lai. 8 z * Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ. Tƣ duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết và phát triển trong sự thống nhất với nhau.

Ngôn ngữ là phƣơng tiện để con ngƣời tiến hành tƣ duy đồng thời cũng là phƣơng tiện để con ngƣời thể hiện tƣ duy của mình. Ngƣời có tƣ duy rành mạch thì ngôn ngữ cũng thƣờng mạch lạc. Do đó rèn luyện tƣ duy và ngôn ngữ phải luôn đi cùng với nhau. * Tư duy phải dựa vào các khái niệm.

Các khái niệm là những yếu tố của tƣ duy, sự kết hợp các khái niệm theo những phƣơng thức khác nhau cho phép con ngƣời đi từ ý nghĩ này đến ý nghĩ khác. * Tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính. Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác. Trong đó, cảm giác là một quá trình tâm lí phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tƣợng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta.

Tri giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tƣợng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta. Nhà tâm lí học Xô Viết X.Rubinstein đã viết “Nội dung cảm tính bao giờ cũng có trong tư duy trừu tượng, tựa hồ như làm thành chỗ dựa của tư duy” [24]. Tư duy trong học tập toán học Toán học là một môn học lôgic đòi hỏi rất cao sự tƣ duy của học sinh. Học tập toán học nhằm mục đích rèn luyện các thao tác của tƣ duy.

Theo các nhà toán học nét độc đáo của tƣ duy theo phong cách toán học là - Suy luận theo sơ đồ lôgic chiếm ƣu thế; - Khuynh hƣớng đi tìm con đƣờng ngắn nhất đến mục đích; - Phân chia rành mạch các bƣớc suy luận; - Sử dụng chính xác các kí hiệu; - Lập luận có căn cứ đầy đủ. Các vấn đề về tư duy sáng tạo 1. Khái niệm về sáng tạo Theo từ điển Tiếng Việt: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có” [23]. Theo từ điển Triết học: “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất” [26].

Trong cuốn phƣơng pháp luận duy vật biến chứng với việc học, dạy, nghiên cứu toán học, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Sáng tạo là sự vận động của tư duy từ những hiểu biết đã có đến những hiểu biết mới” [31]. Qua tìm hiểu thì theo tác giả hiểu: Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kĩ năng và với điều kiện nhƣ vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc. Khái niệm về tư duy sáng tạo Trong tâm lý học định nghĩa: “Tư duy sáng tạo là tư duy vượt ra ngoài phạm vi giới hạn của hiện thực, của vốn tri thức và kinh nghiệm đã có, giúp quá trình giải quyết nhiệm vụ của tư duy được linh hoạt và hiệu quả"[5].

Trong cuốn sáng tạo toán học, G.Polya cho rằng: “ Một tư duy gọi là có hiệu quả nếu tư duy đó dẫn đến lời giải một bài toán cụ thể nào đó. Có thể coi là sáng tạo nếu tư duy đó tạo ra những tư liệu, phương tiện giải các bài toán sau này.” [22] Theo Nguyễn Bá Kim, Vũ Dƣơng Thụy “Tính sáng tạo của tư duy thể hiện rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới, phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Cho Học Sinh Lớp 9 Qua Dạy Học Phương Trình Bậc Hai" tập trung vào việc nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của học sinh thông qua việc giảng dạy các phương trình bậc hai. Tài liệu này không chỉ cung cấp các phương pháp dạy học hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập. Bằng cách áp dụng các kỹ thuật giảng dạy sáng tạo, giáo viên có thể giúp học sinh phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề, từ đó nâng cao kết quả học tập.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giáo dục và phát triển năng lực tư duy, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ giáo dục học phát triển năng lực tư duy cho học sinh trong dạy học chương", nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách phát triển tư duy cho học sinh trong các môn học khác nhau. Ngoài ra, tài liệu "Skkn vận dụng phương pháp dạy học dự án nhằm phát huy năng lực tự học tự chủ cho học sinh trong dạy học bài kí ai đã đặt tên cho dòng sông của hoàng phủ ngọc tường" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc áp dụng phương pháp dạy học dự án để khuyến khích sự sáng tạo và tự học của học sinh. Cuối cùng, tài liệu "Quản lý giáo dục năng lực tự chủ và tự học thông qua hoạt động dạy học ở các trường thcs huyện tiên du tỉnh bắc ninh làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục" sẽ cung cấp thêm thông tin về cách quản lý và phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học cơ sở.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các phương pháp thực tiễn để áp dụng trong giảng dạy.