CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các vấn đề chung về tư duy 1. Khái niệm tư duy Tƣ duy là một vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của nhiều nghành khoa học và nhiều nhà khoa học nghiên cứu.
Ở mỗi lĩnh vực khoa học, tƣ duy đƣợc nghiên cứu theo các góc độ khác nhau. Từ điển Tiếng Việt nêu rõ: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý” [23]. Theo từ điển Triết học: “Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận” [26]. Theo Tâm lý học: “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết” [5].
Ở Việt Nam, với tƣ cách xem tƣ duy là quá trình nhận thức, tập thể tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Hoàng Mộc Loan trong cuốn Tâm lý học đã viết “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất những mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính chất quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết” [32]. Qua việc phân tích một số quan niệm về tƣ duy nhƣ trên, tác giả hiểu định nghĩa của tƣ duy nhƣ sau: “Tƣ duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp là khái quát, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng mà ta chƣa từng biết. Các giai đoạn của tư duy Để dễ hình dung 4 bƣớc trong quá trình tƣ duy, nhà tâm lí học K. Platonop có bảng sơ đồ hoá nhƣ sau NhËn thøc vÊn ®Ò C©u hái XuÊt hiÖn c¸c liªn t-ëng Sµng läc c¸c liªn t-ëng vµ h×nh thµnh gi¶ Gi¶ thuyÕt thuyÕt KiÓm tra gi¶ thuyÕt Kh¼ng ®Þnh Phñ ®Þnh X¸c minh T×m gi¶ thuyÕt ChÝnh x¸c hãa míi QuyÕt ®Þnh Gi¶i quyÕt vÊn Hµnh ®éng t- ®Ò duy míi Sơ đồ 1.
Quá trình tư duy (Nguồn: Dẫn theo Nguyễn Văn Thuận 2004) Số lƣợng các giai đoạn có thể không cần đầy đủ trong những trƣờng hợp nhất định, nhƣng thứ tự các giai đoạn phải tuân thủ theo sơ đồ. Các thao tác tƣ duy có quan hệ mật thiết với nhau, thống nhất theo một hƣớng nhất định, do nhiệm vu tƣ duy quy định. Trong thực tế các thao tác tƣ duy đan chéo với nhau, chứ không theo một trình tự máy móc nhƣ trên. Các thao tác tư duy Tính giai đoạn của tƣ duy mới chỉ phản ánh đƣợc cấu trúc bên ngoài của tƣ duy, còn nội dung bên trong của mỗi giai đoạn trong hành động tƣ duy lại là một quá trình diễn ra trên cơ sở những thao tác tƣ duy.
Theo các kết quả nghiên cứu trong tâm lý học, tƣ duy diễn ra thông qua các thao tác sau - Phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tƣợng nhận thức thành các bộ phận khác nhau từ đó vạch ra đƣợc những thuộc tính, những đặc điểm của đối tƣợng nhận thức hay xác định các bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể đƣợc tƣờng minh. - Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất, sắp xếp hay kết hợp những bộ phận, những thành phần, những thuộc tính của đối tƣợng nhận thức đã đƣợc tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể để từ đó nhận thức đối tƣợng một cách bao quát, toàn diện hơn. Trong tƣ duy, tổng hợp là thao tác đƣợc xem là mang dấu ấn sáng tạo. - So sánh - tư ng tự: là thao tác tƣ duy nhằm xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hiện tƣợng của hiện thực.
Nhờ so sánh ngƣời ta có thể tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật. - Trừu tượng hoá: trừu tƣợng hoá là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, và chỉ giữ lại những yếu tố đặc trƣng, bản chất của đối tƣợng nhận thức. - Khái quát hoá: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tƣợng. Tóm lại, các thao tác tƣ duy cơ bản đƣợc xem nhƣ quy luật bên trong của mỗi hành động tƣ duy.
Trong thực tế tƣ duy, các thao tác đan chéo vào nhau mà không theo trình tự máy móc. Tuy nhiên, tùy theo từng nhiệm vụ tƣ duy, điều kiện tƣ duy, không phải mọi hành động tƣ duy cũng nhất thiết phải thực hiện tất cả các thao tác trên. Những đặc điểm của tư duy Tƣ duy là một mức độ của hoạt động nhận thức, tƣ duy có những đặc điểm sau * Tính có vấn đề của tư duy - Tƣ duy chỉ xuất hiện khi gặp những hoàn cảnh, tình huống có vấn đề. Muốn giải quyết vấn đề đó con ngƣời phải tìm cách thức giải quyết mới.
Tức là con ngƣời phải tƣ duy. - Không phải bất cứ hoàn cảnh nào tƣ duy cũng xuất hiện. Vấn đề chỉ trở nên "tình huống có vấn đề" khi chủ thể nhận thức đƣợc tình huống có vấn đề, nhận thức đƣợc mâu thuẫn chứa đựng trong vấn đề, chủ thể phải có nhu cầu giải quyết và phải có những tri thức liên quan đến vấn đề. Chỉ trên cơ sở đó tƣ duy mới xuất hiện.
* Tính gián tiếp của tư duy Tƣ duy giúp ta nhận thức về những đặc điểm bên trong, những đặc điểm bản chất mà các giác quan không phản ánh đƣợc, mang lại những nhận thức thông qua các dấu hiệu gián tiếp. Tính gián tiếp của tƣ duy đƣợc thể hiện ở chỗ, trong quá trình tƣ duy con ngƣời sử dụng những công cụ, phƣơng tiện (nhƣ đồng hồ, nhiệt kế, máy móc…) để nhận thức đối tƣợng mà không thể trực tiếp tri giác chúng. * Tính trừu tượng và khái quát của tư duy Trừu tƣợng là dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho tƣ duy. Khái quát là dùng tri óc để hợp nhất nhiều đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, một loại, một phạm trù theo những thuộc tính, liên hệ, quan hệ chung nhất định.
Cả hai có mối liên hệ mật thiết với nhau ở mức độ cao. Nhờ có đặc điểm này mà con ngƣời không chỉ giải quyết đƣợc những nhiệm vụ hiện tại mà còn có thể giải quyết đƣợc những nhiệm vụ của tƣơng lai. 8 z * Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ. Tƣ duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết và phát triển trong sự thống nhất với nhau.
Ngôn ngữ là phƣơng tiện để con ngƣời tiến hành tƣ duy đồng thời cũng là phƣơng tiện để con ngƣời thể hiện tƣ duy của mình. Ngƣời có tƣ duy rành mạch thì ngôn ngữ cũng thƣờng mạch lạc. Do đó rèn luyện tƣ duy và ngôn ngữ phải luôn đi cùng với nhau. * Tư duy phải dựa vào các khái niệm.
Các khái niệm là những yếu tố của tƣ duy, sự kết hợp các khái niệm theo những phƣơng thức khác nhau cho phép con ngƣời đi từ ý nghĩ này đến ý nghĩ khác. * Tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính. Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác. Trong đó, cảm giác là một quá trình tâm lí phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tƣợng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta.
Tri giác là quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tƣợng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta. Nhà tâm lí học Xô Viết X.Rubinstein đã viết “Nội dung cảm tính bao giờ cũng có trong tư duy trừu tượng, tựa hồ như làm thành chỗ dựa của tư duy” [24]. Tư duy trong học tập toán học Toán học là một môn học lôgic đòi hỏi rất cao sự tƣ duy của học sinh. Học tập toán học nhằm mục đích rèn luyện các thao tác của tƣ duy.
Theo các nhà toán học nét độc đáo của tƣ duy theo phong cách toán học là - Suy luận theo sơ đồ lôgic chiếm ƣu thế; - Khuynh hƣớng đi tìm con đƣờng ngắn nhất đến mục đích; - Phân chia rành mạch các bƣớc suy luận; - Sử dụng chính xác các kí hiệu; - Lập luận có căn cứ đầy đủ. Các vấn đề về tư duy sáng tạo 1. Khái niệm về sáng tạo Theo từ điển Tiếng Việt: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có” [23]. Theo từ điển Triết học: “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất” [26].
Trong cuốn phƣơng pháp luận duy vật biến chứng với việc học, dạy, nghiên cứu toán học, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Sáng tạo là sự vận động của tư duy từ những hiểu biết đã có đến những hiểu biết mới” [31]. Qua tìm hiểu thì theo tác giả hiểu: Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kĩ năng và với điều kiện nhƣ vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc. Khái niệm về tư duy sáng tạo Trong tâm lý học định nghĩa: “Tư duy sáng tạo là tư duy vượt ra ngoài phạm vi giới hạn của hiện thực, của vốn tri thức và kinh nghiệm đã có, giúp quá trình giải quyết nhiệm vụ của tư duy được linh hoạt và hiệu quả"[5].
Trong cuốn sáng tạo toán học, G.Polya cho rằng: “ Một tư duy gọi là có hiệu quả nếu tư duy đó dẫn đến lời giải một bài toán cụ thể nào đó. Có thể coi là sáng tạo nếu tư duy đó tạo ra những tư liệu, phương tiện giải các bài toán sau này.” [22] Theo Nguyễn Bá Kim, Vũ Dƣơng Thụy “Tính sáng tạo của tư duy thể hiện rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới, phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới.