MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. Nhân loại để tồn tại và phát triển thì cần phải bảo vệ được nguồn tài nguyên và môi trường. Thế kỷ XXI, con người sẽ coi việc bảo vệ và khống chế tự nhiên môi trường làm mục tiêu chủ đạo.
Đồng thời với việc sáng tạo nên thế giới vật chất cực lớn, vô hình chung con người đã gây ô nhiễm và phá hoại nghiêm trọng hoàn cảnh môi trường sinh thái. Không khí, nguồn nước bị ô nhiễm, rừng rậm bị phá huỷ, diện tích đất trồng giảm đi, chất phế thải tiêu diệt màu xanh. Chính những nhân tố đó của tự nhiên đang đe dọa cuộc sống của con người. Cho nên vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên đang là vấn đề cấp bách nhất trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Nhân loại có thể kiến lập được một ngôi nhà chung thứ hai trên mặt trăng hay các hành tinh khác không? Trên mặt trăng không có không khí, cũng không có nước. Trên các hành tinh khác thuộc hệ mặt trời cũng thiếu không khí và nước cho nên các nhà khoa học cho rằng hiện tại trước mắt vẫn chưa tìm ra hành tinh nào gần tTrái đất có tồn tại sự sống cho nên rất khó nói đến một ngôi nhà chung thứ hai của nhân loại. Vậy môi trường có mối quan hệ như thế nào với con người? con người thông qua quá trình trao đổi chất, tiếp nhận ô- xi và thải khí các bon nícacbonic. Vì vậy, nguồn không khí trong sạch sẽ cung cấp dưỡng khí nuôi cơ thể.
Uống nước sạch và ăn các loại thức ăn không bị ô nhiễm sẽ giúp con người tiếp tục và phát triển sinh trưởng. Loài người và môi trường có sự trao đổi về vật chất để giữ được sự cân bằng về hoàn cảnh sinh thái, mà một khi hoàn cảnh sinh thái bị phá vỡ thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người. Vì vậy vấn đề BVMT đã và đang được cả thế giới quan tâm, hãy cứu lấy Trái đất đó là thông điệp của liên hợp quốc gửi đến cho loài người. Do đó cần phải giáo dục ý thức BVMTcho thế hệ trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường – những chủ nhân tương lai của đất nước.
Là người giáo viên Địa lí mạnh dạn chọn đề tài “ Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Địa lí lớp 9 ” 2. Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của sáng kiến kinh “ Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Địa lí lớp 9 ” 5 skkn Thông qua giảng dạy kiến thức môn Địa lí lớp 9 để giáo dục cho học sinh lòng yêu quê hương đất nước, ý thức bảo vệ môi trường và tuyên truyền việc bảo vệ môi trường cho những người xung quanh. Khách thể nghiên cứu và Đối tượng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học môn địa lí. - Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Địa lí lớp 9 4.
Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa - Phương pháp điều tra qua những tiết dự giờ của bạn bè đồng nghiệp cùng bộ môn, diều tra mức độ tiếp thu bài của học sinh và việc đánh giá kết quả của từng tiết dạy. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục. - Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu qua sách tham khảo qua sách báo và các thông tin có tính thời sự. - Phương pháp thực nghiệm qua những tiết dạy học ở lớp 9.
Phạm vi nghiên cứu: BAO GỒM: - Địa bàn nghiên cứu: Trường THCS Trung Phụng - quận Đống Đa – Hà Nội - Khách thể điều tra: HS khối 9 - Trường THCS Trung Phụng - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 16 tháng 09 năm 2011 đến hết ngày hết ngày 20 tháng 2 năm 20143 6 skkn Chương II.PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM I. Khái niệm về môi trường: “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” ( Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005) Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Theo nghĩa hẹp thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người như diện tích nhà ở, nước sạch, điều kiện vui chơi, giải trí, chất lượng bữa ăn. Môi trường sống của con người được phân thành : môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Môi trường tự nhiên bao gồm các thành phần tự nhiên như địa hình, địa chất, đất trồng, khí hậu, nước, sinh vật.
Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người, định hướng hoạt động của con người theo khuôn khổ nhất định, tạo thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác. Môi trường xã hội được thể hieenjcuj hiện cụ thểthể bằng các thể lệ, thể chế, cam kết, quy định. Ngoài ra người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo bao gồm tất cả các yếu tố do con người tạo ra như nhà ở, các phương tiện đi lại, công viên. Môi trường nhà trường bao gồm không gian trường, cơ sở vật chất trong trường học như : lớp học, phòng thí nghiệm, sân chơi, vườn trường, thầy giáo, cô giáo, học sinh, nội quy nhà trường, các tổ chức xã hội như Đoàn Đội.
Tóm lại, môi trường là một thể thống nhất bao gồm các thành phần tự nhiên như : địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn, động thực vật và các công trình văn hóa, kĩ thuật do con người tạo ra. Vì môi trường là một thể thống nhất nên bất cứ một thay đổi nào của một thành phần trong môi trường đều làm các thành phần khác và có thể làm thay đổi sâu sắc toàn bộ môi trường. Khái niệm về BVMT : - Bảo vệ môi trường ( theo nghĩa chung) là BVMT tự nhiên và môi trường nhân tạo. - Bảo vệ môi trường ( theo nghĩa cụ thể) đó là việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và chống ô nhiễm môi trường 3.
Tình hình môi trường nước ta: a) Về đất đai: Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên 331.314 km 2 ( theo Wikipedia. Phần đất liền là 31,2 triệu ha ( chiếm 94,5% diện tích tự nhiên) xếp hàng thứ 58 trong tổng số 200 nước trên thế giới. Những vì số dân đông ( năm 2006 là 84.000 người ) nên diện tích đất bình quân theo đầu 7 skkn người thuộc loại rất thấp xếp thứ 159/200 quốc gia và bằng 1/6 mức bình quân của thế giới. Mặc dù diện tích trên đầu người thấp nhưng diện tích đất chưa sử dụng vẫn còn lớn, tính đến năm 2006 là khoảng 5,28 triệu ha, trong đó 5 triệu ha là đất đồi núi bị thoái hóa nặng.
Diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam qua các năm Năm 1940 1960 1970 1992 2000 2005 Bình quân đầu người 0,2 0,16 0,13 0,11 0,10 0,11 ( ha/ người) Diện tích đất canh tác trên đầu người có xu hướng giảm. Chất lượng đát không ngứng bị giảm do xói mòn, rửa trôi. Đất nghèo kiệt chất dinh dưỡng do các quá trình thoái hóa hóa học đất, khô hạn, sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa, lầy hóa, ngập úng, ô nhiễm do chất thải, do sử dụng phân hóa học và do chất độc hóa học. Hậu quả nghiêm trọng của thoái hóa đất là mất khả năng sản xuất của đất, dẫn đến cạn kiệt tài nguyên động, thực vật và giảm đất nông nghiệp theo đầu người ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội.
b) Về rừng : Sự đa dạng về địa hình, sự phân hóa của khí hậu tạo cho nước ta có nhiều loại rừng: rừng lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng tràm, rừng ngập mặn. Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của nước ta. Rừng có vai trò điều hòa khí hậu, bảo vệ đất, giữ nước ngầm và là nơi lưu trữ các nguồn gen quý giá. Tuy nhiên, độ che phủ của rừng Việt Nam trong thời gian dài có xu hướng giảm.
Những năm gần đây, các hoạt động trồng rừng được coi trọng, diện tích rừng được tăng lên nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục giảm sút. c) Về nước: Việt Nam có lượng nước mưa lớn, hệ thống sông hồ dày đặc nên tài nguyên nước mặt khá phong phú. Tổng lượng nước trung bình hàng năm là 880 tỉ m3. Tuy vậy do nằm ở cuối hạ lưu sông Mê công, sông Mã, sông Cả và sông Hồng nên lượng nước được hình thành trong lãnh thổ Việt Nam chỉ khoảng 325 tỉ m3/ năm.
Điều đó dẫn tới khả năng thiếu nước, nằm ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam., Hơn nữaẵ lượng mưa phân bố không đều theo thời gian trong năm và giữa các vùng, nên ở các tỉnh Trung du Bắc bộ , các tỉnh Trung bộ và Tây Nguyên thường xảy ra hạn hán. Dân số tăng, các hoạt động kinh tế gia tăng và công tác quản lí chưa tốt khiến tài nguyên nước ở Việt Nam đang bị sử dụng quá mức và ô nhiễm. Chỉ số lượng nước tăng theo đầu người nă 1943 là 16,64 m 3/ người/ năm, nếu số dân tăng lên 150 triệu người thì chỉ số còn 2,467m 3/ người / năm, xấp xỉ với các quốc gia hiếm nước. Theo báo cáo hiện trạng môi trường nước Việt Nam năm 2001: Trong thời gian gần đây, ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng khan hiếm nước.
Nhiều nơi ở Trung bộ có tình trạng sa mạc hóa, vùng ven biển có quá trình mặn hóa và muối hóa. Ở các tỉnh Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một số vùng khác đã xảy ra tình trạng căng thwangr thẳng về nước. Các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Việt Trì, Biên Hòa. nước đã bị ô nhiễm 8 skkn tớiơí mức nghiêm trọng.
Môi trường nước ở một số dòng sông như sông Cầu , sông Thị Vải, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông đã bị ô nhiễm nặng. Nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm môi trường nước là do nước thaảii công nghiệp, nước thải sinh hoạt chă được xử lí đã xả trực tiếp vào nguồn nước mặt.