Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển năng lực quản trị đại học cho đội ngũ viên chức quản lý; Chương 2: Thực trạng phát triển năng lực quản trị đại học cho đội ngũ viên chức quản lý tại Trường Đại học Đồng Tháp; Chương 3: Biện pháp phát triển năng lực quản trị đại học cho đội ngũ viên chức quản lý tại Trường Đại học Đồng Tháp. CƠ SỞ LÝ LỊ VE PHAT TRIEN NANG LUC QUẦN TRỊ ĐẠI HỌC CHO ĐỘI NGŨ VIÊN CHUC QUAN LY 1. Lịch sử nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực quản trị đại học cho đội ngũ viên chức quản lý 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Lẫu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định vai trò và vị trí của giáo dục ĐH nói chung và các trường ĐH nỏi riêng ngày càng trờ nên quan trọng.
Theo đó *ĐH là cái chìa khóa của sự chấn hưng quốc gia, của công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa cua quốc gia” [2; tr. Bởi lẻ các trường ĐH bên cạnh vai trỏ là chủ chốt trong lĩnh vực đảo tạo nhân lực KHCN trình độ cao còn là trung tâm nghiên cứu lớn về sản xuất trí thức mới va phát triển, chuyển giao công nghệ hiện dai, gop phần vào sự phát triển bên vững. Giáo dục ĐH còn tạo ra các cơ hội cho học tập. suốt đời, cho phép con người cập nhật các kiến thức và kỹ năng thường xuyên theo.
nhu cầu cúa xã hội. Khởi nguyên cho các nghiên cứu định hướng ban đầu về nền ĐH hiện đại, mô hình DH dé cao tinh ty do vả tự chủ la c: n Wilhemlm von Humboldt (1767 - 1835). Ông là nhả cải cách ĐH và giáo dục của Phổ thể kỷ thứ 19 và những nguyễn lý của ông đặt ra cho Đại học Berlin được thảnh lập năm 1810 trong tỉnh thần khai phóng và khoa học để giải phỏng sự kiểm ham và trì truệ trí thức của nước Phố ở thé ky thứ 18. Humboldt đã xây dựng mô hình Đại hoc Berlin là “DH cua khoa hoc, của nghiên cứu, của sự kết hợp giảng dạy và nghiên cứu, của tự do giảng dạy và nghiên cứu, và tự do học, mà mục đích tối thượng là đi tìm chân lý mà không có sự can thiệp của nhà nước” [2; tr.
Và khi “nói đến truyền thống của giáo dục ĐH Đức, người ta thường nhắc đến cái cách giáo dục ĐH vào đầu thế kỷ 19, trong đó Wilhemlm von Humboldt đã đưa ra các nguyên tác cơ bản của giáo dục ĐH ï) Quyền tự chủ của trường ĐH; ii) Quyển tự do hoc thuat; iii) Tỉnh thông nhất giữa giáng day va nghiên cứu” [2; tr.292] Các nguyên lý Đại học Berlin đã ảnh hưởng sâu rộng lên ĐH toàn thế giới ma DH Đức là một sự tự minh chứng thuyết phục, là một “Mecca” cho các quốc gia khác đến chiêm ngưỡng và tham khảo. Những nhà giáo dục khai phá của ĐH Hoa Kỳ đều đã học tại Đức. Tappan của Đại học Michigan, Eliot cúa Đại học Harvard, White của Comell, Gilman của Johns Hopkins, tất cả họ đều uống cùng dòng suối hàn lâm của Đức [2; tr.13]- Và trong mỗi quan hệ giữa ĐH với nhà nước, tác giả Nguyễn Xuân Xanh [2; tr83] đã nêu ra quan niệm của Humboldt là “Nhà nước không được phép đặt ra những nhiệm vụ thuộc về nhà nước lên cộng đồng học thuật". Theo dng, nha nude thực sự cũng không tạo ra hay có thể tạo ra các hoạt động tri thức, ma chi gay can trớ khi có sự can thiệp của họ.
Do đó, giáo dục phải có sự độc lập với nhà nước. Mặt khác, Humboldt cũng kêu gọi nhả nước hãy bảo vệ sự độc lập đó của ĐH chống lại các ảnh hưởng cục bộ khác. Ông dảnh cho nhả nước vai trò phê duyệt cuốỗi cùng nhãn sự ĐH, như một yếu tố quan trọng đề tránh sự lạm dụng quyền lực do nạn bè phái trong các khoa. Ở Hoa Kỳ, các truyền thông của giáo dục ĐH Đức đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền giáo dục ĐH của quốc gia này.
Nó “bắt đầu từ Johns Hopkins vào nim 1876 và nhanh chóng được noi theo bởi Harvard, Yale, Columbia, Northwenstem, Michigan và các viên ĐH khác của các bang và của tư nhân, đọc suốt đường xuyên sang tin Stanford va Berkeley ở bờ biển phia Tây” [2; tr. Hiện tại, hơn 4300 trưởng ĐH ở Hoa Kỷ đang được vận hành theo mô hình nhả nước tư vấn. Điểm đặc trưng của mô hình này là nhà nước can thiệp Ít, trong khi đó QT nội bộ và cộng đồng học thuật có ảnh hưởng lớn hơn. Ở mô hình nhà nước tư vẫn, nhả nước đóng vai trỏ giới hạn hơn, trong khi nhắn mạnh khá năng tự quản lý cúa các bộ phận được phân quyền ra quyết định.
Nhà nước chí đưa ra khung pháp lý chung và bảo đám cơ sở vật chất cho những bộ phận được phân quyền. Như vậy, trong mô hình nhà nước tư vấn, nhả nước không can thiệp trực tiếp vào hệ thống QTĐH bằng những hình thức quán lý chặt chẽ và quy định cụ thể. đó, nhà nước chỉ đạo, hướng dẫn từ xa, thông qua một hệ thống kiểm soát chung, 10 nhằm ĐBCL giáo dục ĐH và đảm bảo việc các trường ĐH đáp ứng trách nhiệm xã hội của mình. Trong vai trò hướng dẫn, mô hình nảy tôn trọng sự tự chủ và khuyến khích khả năng tự quản lý của trường ĐH.
So với mô hình nhả nước kiểm soát, mô hình này ưu thể hơn, khi thúc đây được sự sảng tạo của các cơ sở giáo dục ĐH. Tác giả Vũ Quang Việt trong nghiên cứu Đại học Hoa Kỳ [2; tr.270] cũng chỉ ra quan điểm quản lý nhà nước đối với ĐH ở Hoa Kỳ là luôn để cao tính tự chủ. Ở quốc gia này, ĐH hoàn toàn tự quản và không chịu sự quán lý của Chính phú hoặc trung ương hay địa phương về chương trình giáo dục, nội dung giáo dục, bố nhiệm giáo sư và tuyển SV, Đỗi với trường công thì chính quyển có quyển quyết định về mức ngân sách cấp cho ĐH, nhưng việc quản lý tài chỉnh vả chương trinh giáo dục cũng như nội dung khoa học là do Hội đồng QT trường quyết định. Bộ Giáo dục và Nhà nước trung ương hoàn toàn không có quyền quán lý đổi với ĐH.
'Và chất lượng, hiệu quá QT của một trường DH Hoa Kỳ được biểu thị bằng cụm từ “ cách ĐH được công nhận”. Hay nói ding ra là việc được chứng nhận. Tư cách ĐH là do các Hội các ĐH ở Hoa Kỳ, một tổ chức cỏ hội viên là tắt cả các ĐH, gằm tất cả các ĐH danh tiếng nhất, công nhận. *Cơ cấu quản lý của trường ĐH Mỹ gém HĐT, Hiệu Trướng, các nhà quản lý cao cấp, các khoa, cán bộ nhân viên vả SV.
ĐH Mỹ vẫn đang nằm dưới sự kiểm soát mạnh mẽ của ban QT. Tuy vậy, lợi thể đặc biệt của tập thể giáng viền, kết hợp. với những sáng kiến của SV, cũng cho phép ít nhiều chia sẻ quyền lực trong những quyết định của nhà trường” [19]. Tác giả Đinh Xuân Khoa [15; tr 10] cũng nêu lên vấn để về xây dựng cơ sở pháp lý cho QTĐH ở Anh.
Theo đó vào năm 2014, Chinh phủ Anh đã ban hành Luật QT giáo dục ĐH sau khi lấy ý kiến tư vấn rộng rãi thành viên của Hội dong hiệu trưởng các trường ĐH (CUC) vả các bên liên quan của giáo dục ĐH. Mục địch của Luật lả xác định các giá trị và các hoạt động chính cho QT có hiệu quả các cơ sở giáo dục ĐH của Anh. Tuy nhiên, dé QT tốt các cơ sở giáo dục ĐH, không chỉ phụ thuộc vào áp dụng chỉ riêng Luật này. Việc QT tốt đỏi hỏi một tập hợp các mỗi 1 quan hệ bn chặt dựa trên sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau và sự trung thực được duy trì giữa các chu thé QT, tit Chi tịch HĐT đến Hiệu trường và nhóm cán bộ quản lý cốt cán.
Nhằm thiết lập các giả trị cốt lồi, Luật này áp dụng vả dựa trên “Các nguyên tắc Nolan vẻ đời sông công công”, là bộ quy tắc cung cấp khung đạo. đức đối với các phẩm chất cá nhân của những người QT. Giáo dục ĐH chất lượng cao nhằm duy trì lòng tin của công chúng và bảo vệ uy tín của hệ thông giáo dục ĐH trên nền tảng một số giá trị chung. Sự thất bại trong việc áp dụng và thực thí các giá trị chung trong thue té QT sẽ gây hậu quả ngoài mong muốn của trường ĐH, làm ánh hưởng đến uy tín chung của các cơ sở giáo dục ĐH Anh.
Trong từng cơ sở giáo dục ĐH, điểu quan trọng là, Ban lãnh đạo, Bộ phân QT và Thư ký phải phát triển một nhận thức chung vẻ các kỳ vọng, cam kết xã hội và về cách thức áp dụng từng yếu tố cơ bản riêng rẽ của Luật. Việc QT tốt không chí đòi hỏi phát triển các quy trình mả còn phải phát triển các môi quan hệ bên chặt, sự đối thoại trung thực và sự tôn trọng lẫn nhau. Như vậy, QTĐH cần phái được “/uất hóa”, nhằm tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động QT trong trường ĐH vả sự tham gia của các bên liên quan. Vi thé, ban hành Luật QT giáo dục ĐH là yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển giáo dục ĐH của mỗi quốc gia.
Chinh phủ Nhật Bản cũng đã sớm nhìn nhận vấn dé tự chủ ĐH giúp cho các cơ sở giáo dục ĐH vận hành tốt hơn, hoạt đồng hiệu quả hơn, đồng thời cũng làm tảng tính cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục ĐH, tạo điều kiện để đa dạng hóa các hoạt động giáo dục ĐH. Xu hưởng chung trên toàn câu hiện nay là chuyển dân từ mô hình nhà nước kiểm soát sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn, sự thay đổi này thường được mô tả là chuyển từ hệ thông nhà nước kiểm soát sang hệ thông nhà nước giám sát. Và trước đó, Chính phủ đã thông qua Luật tập đoản ĐH quốc gia vào năm 2003, đã giúp cho các cơ sở giáo dục ĐH quốc gia được tự chủ theo. luật định, với nhiều quyển lực được giao cho hội đồng QT và Hiệu trưởng.
Hội đồng QT được xem như cơ quan quyền lực cao nhất, quyết định các chỉnh sách, chiến lược, định hướng phát triển và giám sát các hoạt động của cơ sở giáo dục ĐH, chịu trách nhiệm trước nhà nước vả xã hội. Trong khi, Hiệu trướng chịu trách nhiệm điều hành, quản lý các công việc hàng ngày và thực thi các chính sách, định hướng. của hội đồng QT. Theo Lê Thành Nghiệp [2; tr.