phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vấn đề năng lực nhận thức và tƣ duy. Bài tập hoá học thực nghiệm. Chƣơng 2: Một số biện pháp phát triển năng lực nhận thực thức và tƣ duy cho học sinh thông qua hệ thống bài tập thực nghiệm. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ TƢ DUY. BÀI TẬP HOÁ HỌC THỰC NGHIỆM. Hoạt động nhận thức và phát triển tƣ duy của học sinh trong quá trình dạy học hóa học 1. Khái niệm nhận thức Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con ngƣời (nhận thức, tình cảm, lí trí).
Nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có mối liên hệ chặt chẽ với chúng và các hiện tƣợng tâm lí khác [5, tr. Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau. Có thể chia hoạt động nhận thức làm hai giai đoạn lớn: - Nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác) - Nhận thức lí tính (tƣ duy và trừu tƣợng) 1. Nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác) Là một quá trình tâm lí, nó là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tƣợng thông qua sự tri giác của các giác quan.
Cảm giác là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức, nó chỉ phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tƣợng. Tri giác phản ánh sự vật hiện tƣợng một cách trọn vẹn và theo một cấu trúc nhất định. Nhận thức lí tính (tư duy và tưởng tượng) Tƣởng tƣợng là một quá trình tâm lí phản ánh những điều chƣa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tƣợng đã có. Tƣ duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính qui luật của sự vật hiện tƣợng trong hiện thực khách quan mà trƣớc đó ta chƣa biết.
Nhƣ vậy tƣ duy là quá trình tìm kiếm và phát hiện cái mới về chất một cách độc lập. Nét nổi bật của tƣ duy là tính “có vấn đề” tức là trong hoàn cảnh có vấn đề tƣ duy đƣợc nảy sinh. Tƣ duy là mức độ lí tính nhƣng có liên quan chặt chẽ đến nhận thức cảm tính. Nó có khả năng phản ánh những thuộc tính 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản chất của sự vật hiện tƣợng.
Nhƣ vậy quá trình tƣ duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức. Nắm bắt đƣợc quá trình này ngƣời GV sẽ hƣớng dẫn tƣ duy khoa học cho HS trong suốt quá trình dạy và học môn hoá học ở trƣờng phổ thông. Trong việc phát triển năng lực nhận thức của HS, khâu trung tâm là phát triển năng lực tƣ duy, trong đó đặc biệt chú trọng rèn luyện cho HS một số thao tác tƣ duy và ba phƣơng pháp tƣ duy. Tônxtôi đã viết: “ Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thành quả những cố gắng của tƣ duy chứ không phải của trí nhớ”.
Nhƣ vậy, HS chỉ thực sự lĩnh hội đƣợc tri thức khi họ có tƣ duy. Sacđacôp: “ Tƣ duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật và hiện tƣợng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của chúng. Tƣ duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật, hiện tƣợng mới, riêng rẽ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hoá đã thu nhận đƣợc” [28]. Còn theo tác giả Nguyễn Xuân Trƣờng ( Đại Học Sƣ Phạm Hà Nội) thì “ tƣ duy là hành động trí tuệ nhằm thu thập và xử lý thông tin về thế giới quanh ta và thế giới trong ta.
Chúng ta tƣ duy để hiểu, làm chủ tự nhiên, xã hội và chính mình”[23]. Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy Lý luận dạy học hiện đại đặc biệt chú trọng đến việc phát triển tƣ duy cho HS thông qua việc điều khiển tối ƣu quá trình dạy học, còn các thao tác tƣ duy cơ bản là công cụ của nhận thức, đáng tiếc rằng điều này cho đến nay vẫn chƣa đƣợc thực hiện rộng rãi và có hiệu quả. Vẫn biết sự tích luỹ kiến thức trong quá trình dạy học đóng vai trò không nhỏ, song không phải quyết định hoàn toàn. Con ngƣời có thể quên đi nhiều sự việc cụ thể mà dựa vào đó những nét tính cách của anh ta đƣợc hoàn thiện.
Nhƣng nếu những nét tính cách này đạt đến mức cao thì con ngƣời có thể giải quyết đƣợc mọi vấn đề phức tạp nhất, điều đó nghĩa là anh ta đã đạt đến một trình độ tƣ duy cao. Quá trình hoạt động nhận thức của HS chia làm 2 mức độ: trình độ nhận thức cảm tính và trình độ nhận thức lý tính. Những đặc điểm của tư duy 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quá trình tƣ duy nhất thiết phải sử dụng ngôn ngữ là phƣơng tiện. Giữa tƣ duy và ngôn ngữ có mối quan hệ không thể chia cắt, tƣ duy và ngôn ngữ phát triển trong sự thống nhất với nhau.
Tƣ duy dựa vào ngôn ngữ nói chung và khái niệm nói riêng. Mỗi khái niệm lại đƣợc biểu thị bằng một hay một tập hợp từ. Vì vậy, tƣ duy là sự phản ánh dựa vào ngôn ngữ. Các khái niệm là những yếu tố của tƣ duy.
Sự kết hợp các khái niệm theo những phƣơng thức khác nhau, cho phép con ngƣời đi từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác. + Tư duy phản ánh khái quát: Tƣ duy phản ánh hiện thực khách quan, những nguyên tắc hay nguyên lý chung, những khái niệm hay vật tiêu biểu, phản ánh khái quát là phản ánh tính phổ biến của đối tƣợng. Vì thế, những đối tƣợng riêng lẻ đều đƣợc xem nhƣ một sự thể hiện cụ thể của quy luật chung nào đó. Nhờ đặc điểm này quá trình tƣ duy bổ sung cho nhận thức và giúp con ngƣời nhận thức hiện thực một cách toàn diện hơn.
+ Tư duy phản ánh gián tiếp: Tƣ duy giúp ta hiểu biết những gì không tác động trực tiếp, không cảm giác và quan sát đƣợc, mang lại những nhận thức thông qua các dấu hiệu gián tiếp. Tƣ duy cho ta khả năng hiểu biết những đặc điểm bên trong, những đặc điểm bản chất mà các giác quan không phản ánh đƣợc. + Tư duy không tách rời quá trình nhận thức cảm tính: Quá trình tƣ duy bắt đầu từ nhận thức cảm tính, liên hệ chặt chẽ với nó trong quá trình đó nhất thiết phải sử dụng những tƣ liệu trong nhận thức cảm tính. Những phẩm chất của tư duy Những công trình nghiên cứu về tâm lí học và giáo dục đã khẳng định rằng: sự phát triển tƣ duy nói chung đƣợc đặc trƣng bởi sự tích lũy các thao tác tƣ duy thành thạo vững chắc của con ngƣời.
Những phẩm chất của tƣ duy [28, tr.21] là: - Tính định hƣớng: thể hiện ở ý thức nhanh chóng và chính xác đối tƣợng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và con đƣờng tối ƣu để đạt mục đích đó. - Bề rộng: thể hiện có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tƣợng khác. - Độ sâu: thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tƣợng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tính linh hoạt: thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hành động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo.
- Tính mềm dẻo: thể hiện ở hoạt động tƣ duy đƣợc tiến hành theo các hƣớng xuôi và ngƣợc chiều (ví dụ: từ cụ thể đến trừu tƣợng và từ trừu tƣợng đến cụ thể…) - Tính độc lập: thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện đƣợc vấn đề, đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề. - Tính khái quát: thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đƣa ra mô hình khái quát. Từ mô hình khái quát này có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề cùng loại. Để đạt đƣợc những phẩm chất tƣ duy trên, trong quá trình dạy học chúng ta chú ý rèn cho HS các thao tác tƣ duy nhƣ thế nào? 1.
Rèn luyện các thao tác tư duy trong dạy học môn hoá học ở trường phổ thông Chúng ta đã biết việc phát triển tƣ duy là một khâu rất quan trọng trong quá trình dạy học. Môn hoá học là môn khoa học TN do đó nó có nhiều khả năng trong việc hình thành và phát triển tƣ duy cho HS. Xét về phƣơng diện lí luận thì trong logic học ngƣời ta thƣờng biết có ba phƣơng pháp hình thành phán đoán mới: quy nạp, suy diễn và loại suy. Ba phƣơng pháp tƣ duy này có quan hệ chặt chẽ với các thao tác tƣ duy: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá … Chúng ta sẽ tìm hiểu các thao tác tƣ duy [4, tr.
Phân tích “Là quá trình tách các bộ phận của sự vật, hiện tƣợng tự nhiên của hiện thực với các dấu hiệu và thuộc tính của chúng cũng nhƣ các mối liên hệ và quan hệ giữa chúng theo một hƣớng xác định”. Xuất phát từ góc độ phân tích các hoạt động tƣ duy đi sâu vào bản chất thuộc tính của bộ phận từ đó đi tới những giả thiết và những kết luận khoa học. Trong học tập hoạt động này rất phổ biến. Ví dụ: Muốn giải một bài toán hóa học, phải phân tích các yếu tố dữ kiện từ đó mới giải đƣợc.
Tổng hợp “Là hoạt động nhận thức phản ánh của tƣ duy biểu hiện trong việc xác lập tính thống nhất của các phẩm chất, thuộc tính của các yếu tố trong một sự vật 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên vẹn có thể có đƣợc trong việc xác định phƣơng hƣớng thống nhất và xác định các mối liên hệ, các mối quan hệ giữa các yếu tố của sự vật nguyên vẹn đó, trong việc liên kết và liên hệ giữa chúng và chính vì vậy là đã thu đƣợc một sự vật và hiện tƣợng nguyên vẹn mới”. Theo định nghĩa trên tổng hợp không phải là một số cộng đơn giản của hai hay nhiều sự vật, không phải là sự liên kết máy móc các bộ phận thành chỉnh thể. Sự tổng hợp chân chính là một hoạt động tƣ duy xác định đặc biệt đem lại kết quả mới về chất, cung cấp một sự hiểu biết mới nào đó về hiện thực.