Chương 1.: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chương 2. Một số biện pháp dạy học nội dung hệ phương trình bậc nhất ba ẩn theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề Chương 3. Thực nghiệm sư phạm. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Khái niệm năng lực Ngày nay, dưới những dạng tiếp cận khác nhau, người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về năng lực. Tác giả coi năng lực là điều kiện để thực hiện những hoạt động mang lợi ích cho con người. Theo các nhà tâm lý học: “Năng lực chính là một tổ hợp đặc điểm tâm lí của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy” [9]. Theo quan niệm này, năng lực mang đặc điểm tâm lí cá nhân (một nhân cách) và tính gắn liền với một hoạt động nào đó.
Theo quan điểm triết học: “Năng lực là toàn bộ những đặc tính tâm lý của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định đã hình thành trong lịch sử” dẫn theo [20]. Quan điểm này có điểm khác với quan điểm của tâm lý học, đó là tính gắn liền với hoạt động nghề nghiệp trong xã hội. E (2001) thì “Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. (Dẫn theo [27]) Qua nghiên cứu những quan niệm về năng lực như trên, có thể nhận ra được những đặc điểm chung về năng lực như sau: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Năng lực tính có mục đích, năng lực luôn gắn với một nhiệm vụ giải quyết một hoạt động cụ thể nhằm tạo ra một kết quả nào đó.
- Năng lực có mối liên hệ mật thiết với kĩ năng, là sự tích hợp của nhiều kĩ năng, kĩ xảo, thái độ…Năng lực huy động nhiều kĩ năng kiến thức. Ở đây cần phân biệt kĩ năng và năng lực; kĩ năng là hành động thực hiện thành thạo một hành động nào đó còn năng lực tổng hợp nhiều kĩ năng, là một hệ thống phức tạp hơn và có tính mục đích. Có kĩ năng trong một lĩnh vực nào đó thì chưa chắc đã có năng lực, nhưng có năng lực trong một hoạt động, lĩnh vực thì sẽ có kĩ năng, hoạt động của lĩnh vực đó. - Năng lực được hình thành trong hoạt động và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như di truyền, bẩm sinh, xã hội…Chủ yếu năng lực được hình thành do tập luyện, rèn luyện thường xuyên, yếu tố bẩm sinh chỉ là thứ yếu.
Thông qua quá trình rèn luyện và học tập dưới những phương pháp và hình thức khác nhau mà năng lực của con người có sự riêng biệt. Từ đó, trong luận văn này, năng lực được hiểu là một hệ thống phức tạp kết hợp kiến thức, kĩ năng, tâm sinh lý của con người vào giải quyết được một công việc nào đó trong những tình huống xác định. Cấu trúc của năng lực Xác định được thành phần và cấu trúc của năng lực giúp xây dựng những hoạt động nhằm phát triển năng lực cho học sinh. Tuy vậy có nhiều loại năng lực khác nhau nên việc phân chia cấu trúc cũng khác nhau.
Một vài cách phân chia cấu trúc của năng lực như sau: Theo Phan Anh (2012), có thể phân chia cấu trúc năng lực hành động thành 4 nhóm năng lực thành phần như sau: a) Năng lực chuyên môn, bao gồm + Khả năng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. + Khả năng đánh giá kết quả chuyên môn. b) Năng lực phương pháp, bao bồm: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Khả năng nhận thức, so sánh, xử lý thông tin. + Khả năng truyền thụ và trình bày tri thức.
+ Khả năng định hướng được mục đích trong giải quyết các vấn đề. c) Năng lực xã hội, bao gồm: + Khả năng giao tiếp xã hội. + Khả năng hợp tác trong tập thể. d) Năng lực cá thể, bao gồm: + Khả năng nắm được giới hạn của bản thân.
+ Khả năng thực hiện kế hoạch phát triển năng khiếu. + Khả năng đánh giá được cơ hội phát triển. [2] Theo Organization for Economic Cooperation and Development (OECD, 2002) [28] cấu trúc năng lực hành động thành ba nhóm năng lực thành phần như sau: * Năng lực sử dụng công cụ một cách thông minh, bao gồm: + Khả năng sử dụng các biểu tượng toán học. + Khả năng sử dụng công nghệ thông tin.
+ Khả năng chọn lựa thông tin để giải quyết vấn đề. * Năng lực hành động, tự chủ và sáng tạo, bao gồm: + Khả năng xây dựng kế hoạch, dự án và thực hiện kế hoạch, dự án. + Khả năng tự chủ nhận thức được nhu cầu cá nhân. + Khả năng hành động hiệu quả thích nghi với hoàn cảnh.
* Năng lực tương tác hòa đồng với tập thể, bao gồm: + Khả năng hợp tác trong tập thể. + Khả năng thiết lập mối quan hệ với người khác thông qua tương tác. + Khả năng điều chỉnh môi trường thân thiện và hòa giải mâu thuẫn. Trong [3] năng lực được chia thành 2 nhóm: - Nhóm năng lực chung, bao gồm: + Năng lực giao tiếp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Năng lực hợp tác + Năng lực giải quyết vấn đề + Năng lực sáng tạo + Năng lực tự chủ + Năng lực tự học + Năng lực ngôn ngữ.
- Nhóm năng lực thành phần, bao gồm: + Năng lực tư duy và lập luận + Năng lực giải quyết vấn đề toán học + Năng lực mô hình hóa toán học + Năng lực sử dụng công cụ và phương tiện + Năng lực giao tiếp toán học. Năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn 1. Vấn đề và tình huống có vấn đề Vấn đề là một bài toán, một câu hỏi hay một đòi hỏi yêu cầu hành động giải quyết, đòi hỏi một cá nhân hay một nhóm đưa ra cách giải, câu trả lời, các hành động phải tiến hành, mà chưa biết con đường nào dẫn tới kết quả. Do đó chỉ khi chưa có trong tay thuật giải thì một bài toán mới gọi là vấn đề.
Những bài toán đã biết thuật giải hoặc có thể áp dụng trực tiếp quy tắc và phương pháp thì không được coi là vấn đề. Vấn đề mang tính tương đối, phụ thuộc vào độ tuổi và tri thức của đối tượng. Ví dụ bài toán về tính diện tích của hình phẳng cho bởi đồ thị sẽ là vấn đề nếu học sinh chưa học công thức ứng dụng của tích phân để tính diện tích hình phẳng, nhưng sẽ không phải là vấn đề sau khi học sinh đã học được công thức đó. Theo Nguyễn Bá Kim (2015), một tình huống có vấn đề có đặc trưng sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tình huống tồn tại một vấn đề: Tình huống này phải chứa đựng một bài toán hay một câu hỏi mà học sinh chưa có đủ khả năng đưa ra câu trả lời do chưa xây dựng được thuật giải để giải quyết bài toán hoặc do trình độ tư duy.
- Tình huống tạo nhu cầu giải quyết vấn đề: Tình huống này cần gợi lên nhu cầu, ham muốn kích thích học sinh có mong muốn tìm các phương án giải quyết vấn đề. - Tình huống có khả năng khơi gợi niềm tin vào bản thân: Tình huống có vấn đề phải được thiết kế hợp lí để khơi gợi lên niềm tin vào năng lực bản thân có thể giải quyết vấn đề của học sinh. Do vậy giáo viên cần xây dựng những tình huống quen thuộc, gắn liền với cuộc sống thực tiễn và không quá khó, vượt quá tri thức hiểu biết của học sinh để học sinh có cảm giác thu thập thông tin, vận dụng các kiến thức đã biết có thể tìm ra giải pháp giải quyết vấn đề. Quan niệm về năng lực giải quyết vấn đề Năng lực giải quyết vấn đề là năng lực hoạt động trí tuệ trước một tình hướng hay một bài toán chưa có phương pháp, quy tắc và thuật toán giải quyết, đòi hỏi học sinh phải tư duy tích cực để tìm ra phương án giải quyết.
Trong “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năm 2018” : “Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết các tình huống mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường”. [3] Tương tự như cách định nghĩa trên, Nguyễn Thị Lan Phương (2014) cũng đưa ra định nghĩa “Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, động cơ và xúc cảm để giải quyết tình huống vấn đề mà ở đó giải pháp thông thường không giải quyết ngay được”. [18] Có thể thấy năng lực giải quyết vấn đề là tổ hợp nhiều kĩ năng, thao tác tư duy như phát hiện ra tình huống có vấn đề, huy động kiến thức và những kĩ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng, kinh nghiệm của bản thân, lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, tìm ra các giải pháp giải quyết vấn đề đó. Để có thể phát triển năng lực giải quyết vấn đề, cần sự sẵn sàng tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề của học sinh, để đạt được điều đó, giáo viên cần chú ý thiết kế các tình huống phù hợp với năng lực và tư duy, gần gũi với học sinh, có thể là những bài toán ứng dụng của toán học vào thực tiễn, thông qua đó học sinh tò mò và hứng thú với vấn đề, nảy sinh nhu cầu và ham muốn giải quyết vấn đề.
Cũng theo [18], năng lực giải quyết vấn đề gồm bốn thành tố, mỗi thành tố bao gồm hành vi của cá nhân hoạt động độc lập hoặc trong tập thể nhóm như sau: Bảng 1. Các thành tố của năng lực giải quyết vấn đề Thành tố Biểu hiện Tìm hiểu vấn đề - Phát hiện được vấn đề trong tình huống có vấn đề thông qua phân tích tình huống. - Phát biểu tình huống có vấn đề và chia sẻ với người khác. Thiết lập không gian vấn đề - Huy động thông tin, kiến thức, kĩ năng liên quan tới vấn đề.
- Sắp xếp và chọn lọc thông tin phù hợp. - Tìm ra quy trình thiết lập không gian vấn đề một cách đồng nhất.