CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP 1. Tổng quan về dạy học tích hợp 1. Khái niệm dạy học tích hợp Theo TS. Nguyễn Thị Kim Dung, quá trình hình thành năng lực giải quyết hiệu quả những tình huống thực tiễn dựa vào việc vận dụng, kết hợp những nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau được coi là quan niệm dạy học tích hợp.
[7] Bắt nguồn từ nghĩa của từ “tích hợp” là sự hợp nhất, sự kết hợp, sự hòa nhập mà khái niệm dạy học tích hợp cũng có thể được hiểu là quá trình xác lập lại một cái chung trên nền tảng những kiến thức riêng lẻ vốn có. Ví dụ như bộ môn Khoa học được xây dựng nên từ các môn khoa học tự nhiên: Vật Lí, Hóa học, Sinh học; trong khi đó, bộ môn Xã hội là một tổ hợp của các môn: Địa Lý, Lịch Sử, Xã hội học và Kinh tế học; …. Dựa trên những mối liên hệ về lý luận và thực tiễn của các môn mà hình thành nên một nền tảng kiến thức bao quát, tổng thể hơn cho học sinh. Điều này cũng có đồng nghĩa với việc giúp học sinh có thể vận dụng được kiến thức một cách linh hoạt vào nhiều không gian, hoàn cảnh mới.
Cụ thể hơn nữa, trong nội dung luận văn này, khái niệm Dạy học chủ đề tích hợp có thể được coi là một trong những kiểu tổ chức dạy học mà trong đó, nội dung kiến thức được tổ chức theo hướng tích hợp thành các chủ đề sao cho đáp ứng mục tiêu dạy học trong thời đại mới. Từ quan điểm dạy học đó việc học tập của học sinh trong nhà trường cần những yêu cầu nhất định, những tình huống vận dụng kiến thức cần phải thực tiễn để học sinh phát huy được năng lực tự lực cũng như tư duy sáng tạo. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục tiêu của dạy học tích hợp Phù hợp với quá trình đổi mới để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong thế kỉ XXI, dạy học tích hợp cũng nhằm hướng tới nhiều mục tiêu khác nhau: - Từ quá trình học tập gắn liền với thực tiễn, các kiến thức đi kèm giải quyết những tình huống cụ thể, xác thực mà hình thành sự hứng thú của học sinh đối với môn học giúp cho quá trình học tập trở nên có ý nghĩa hơn.
- Hình thành mối liên hệ giữa các nội dung kiến thức, tránh trùng lặp nội dung đồng thời kiến tạo những nội dung, kĩ năng mà khi nghiên cứu riêng rẽ sẽ không có được. - Dựa trên khả năng tổng hợp được hình thành trong quá trình học tập giúp học sinh phát triển năng lực mà một trong số đó quan trọng nhất là kĩ năng giải quyết vấn đề (phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp, thực hiện giải pháp, trình bày và bảo vệ kết quả). Trên nền tảng đó góp phần tạo nên những công dân có kĩ năng sống và làm việc hiệu quả vì sự phát triển bền vững cho toàn xã hội. Các mức độ tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông Quan niệm dạy học tích hợp dựa trên mối liên hệ giữa các môn học nhằm phát triển kiến thức tổng quát và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh để giải quyết các tình huống tích hợp.
Quá trình nghiên cứu dạy học tích hợp đã được hình thành từ rất lâu thông qua nhiều quan điểm khác nhau như của Forgaty (1991), Xavier Rogier, Susan M Drake (2007). Dựa trên những điểm chung từ những quan điểm đó, có 3 mức độ tích hợp chính trong chương trình giáo dục phổ thông được đưa ra. Mức độ 1: Tích hợp trong từng môn riêng lẻ Ở mức độ 1, từng môn học được xây dựng và giảng dạy một cách riêng biệt không có nhiều sự liên hệ với những môn học khác. Đây được xem là cách truyền thống trong thiết kế chương trình giáo dục phổ thông.
Những phần nội dung của các môn, các lĩnh vực nội dung cùng một môn học sẽ được tích hợp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo bài, chương hay một chủ đề cụ thể. Môn học có thể được sắp xếp thành các chủ đề, nội dung và xây dựng một cách có hệ thống. Ví dụ như trong dạy học Vật lí, đó là các chủ đề như cơ học, nhiệt học, quang học, …. Tuy nhiên, bản thân trong từng môn học, kiến thức cũng được liên kết với nhau bằng cách này hoặc cách khác.
Nhờ có những liên kết đó mà học sinh có thể vận dụng những kiến thức đã học để xử lí một chủ đề tổng quát. Ngoài ra, nội dung kiến thức của một bộ môn cũng có thể được thiết kế theo cấu trúc dạng bậc phát triển thông qua từng lớp học, từng bậc học. Mức độ 2: Tích hợp đa môn Tại mức độ này, những môn học vẫn là riêng biệt nhưng được bố trí, sắp xếp thông qua những liên kết có chủ đích giữa các chủ đề hay các vấn đề chung. Từ đó, bằng việc học tập hay nghiên cứu những chủ đề chung, HS tiếp cận được nhiều môn học thông qua những góc cạnh khác nhau của chủ đề.
Ở mức độ tích hợp đa môn này, nội dung và đánh giá vẫn được GV giữ nguyên theo từng môn riêng biệt; HS sẽ đóng vai trò tìm hiểu, tạo ra những kết nối giữa các bộ môn khác nhau. Ở mức độ này, GV có vai trò quan trọng trong việc tìm ra những kiến thức phù hợp từ các bộ môn khác nhau để đưa vào bài học. Mức độ 3: Liên môn Các môn học được liên kết với nhau, xây dựng những chủ đề, vấn đề, khái niệm lớn và ý tưởng chung giữa chúng. HS sẽ tiếp cận vấn đề không thông qua môn học mà trực tiếp thông qua thực tiễn.
Chương trình học tập cũng xoay quanh những chủ đề, vấn đề chung,. nói trên nhưng ở mức độ này các kĩ năng liên môn sẽ được chú trọng chứ không phải đánh giá trong từng môn riêng biệt. Ở mức độ này, HS đóng vai trò chủ đạo nhờ quá trình tự nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề được đưa ra. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Quá trình dạy học tích hợp - Bước 1: Xác định chủ đề dạy học + Xuất phát từ các kiến thức phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lựa chọn vấn đề gần gũi trong cuộc sống (mang ý nghĩa về thực tiễn, về khoa học kỹ thuật, …) hình thành ý tưởng tổ chức chủ đề dạy học + Xác định những kiến thức liên quan đến từ các môn học trong chương trình để xây dựng một hệ thống kiến thức cho học sinh - Bước 2: Xác định mục tiêu dạy học chủ đề tích hợp: bồi dưỡng năng lực cho học sinh - Bước 3: Dự kiến thời gian cho chủ đề, thời gian tiến hành trong năm học - Bước 4: Xây dựng hệ thống nội dung hoặc bộ câu hỏi phù hợp để thể hiện hết các mảng kiến thức của chủ đề đã được nêu ra - Bước 5: Xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp: lựa chọn phương pháp, thiết kế nội dung nhằm hướng tới mục tiêu đã xác định từ đầu - Bước 6: Xây dựng công cụ kiểm tra, đánh giá năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh - Bước 7: Tổ chức dạy học chủ đề tích hợp và đánh giá hiệu quả của các phương án dạy học đã thiết kế. Từ đó rút kinh nghiệm cho kế hoạch sau. Các mô hình dạy học tích hợp Trên thế giới hiện nay, có 3 mô hình chương trình dạy học chủ đề tích hợp được biết đến nhiều nhất [4]: - Mô hình đa môn (interdisciplinary model) - Mô hình dựa trên chuỗi vấn đề (problem-based model) - Mô hình dựa trên các chủ đề (themebased model) 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mô hình đa môn Mô hình này xây dựng từ các chủ đề, các vấn đề chung mà có phần kiến thức, kĩ năng liên quan đến từ một số môn học khác nhau.
Tuy nhiên, vẫn có sự nghiên cứu độc lập của từng môn dưới từng góc độ riêng biệt. Mô hình dựa trên chuỗi vấn đề Dựa trên nguyên lý những vấn đề trong cuộc sống thường được phân tích thành một chuỗi những vấn đề nhỏ hơn từ đó xây dượng mô hình dạy học tích hợp dựa trên chuỗi vấn đề mà học sinh muốn giải quyết được phải huy động tổng hợp kiến thức kĩ năng của mình từ những môn học khác nhau. Mô hình dựa trên các chủ đề Mô hình này giảng dạy theo các chủ đề được đưa ra trước mà đòi hỏi GV và HS vận dụng kiến thức đến từ nhiều môn học khác nhau. Trong mô hình này, GV có thể vẫn giảng dạy một môn học nhưng vận dụng và mở rộng kiến thức của nhiều môn học liên quan.
Tổng quan về dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề 1. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực (competency) bắt nguồn từ tiếng Latin “competentia”. Hiện nay, khái niệm “năng lực” đã được giải thích và hiểu ở nhiều nghĩa đa dạng. Nó được hiểu như sự nhuần nhuyễn, thuần thục khi cá nhân thực hiện một công việc nào đó.
Trong nội dung luận văn, khái niệm “năng lực” sẽ là đối tượng của giáo dục học. Năng lực còn được coi là một thuộc tính tâm lý phức hợp vì hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, .[4] Khái niệm năng lực luôn đi liền với khả năng hành động của cá nhân. Chính vì thế khi phát triển năng lực ta có thể hiểu theo nghĩa phát triển năng lực hành động của cá nhân. Trong lĩnh vực sư phạm, “năng lực” cũng còn được hiểu như khả năng thực hiện hiệu quả, có trách nhiệm những hành động, vấn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đề trong những tình huống khác nhau thuộc nhiều lĩnh vực trong xã hội, nghề nghiệp hay cá nhân trên cơ sở những hiểu biết về tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như kinh nghiệm.
Trong dạy học bồi dưỡng năng lực, ta có thể sử dụng khái niệm “năng lực” như sau: - Trong mục tiêu của dạy học những năng lực cần hình thành được mô tả một cách rành mạch, rõ ràng - Năng lực là sự vận dụng, kết hợp những tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn, .