phần mở đầu ngắn gọn nhƣ: Giới thiệu, triết lí, các khái niệm, cách sử dụng, các bƣớc tiếp theo, các trang website liên quan. Nội dung chính của chƣơng trình là sự cụ thể hóa cho các kĩ năng ở từng cấp lớp và lớp riêng theo các mạch đọc, viết, nghe, nói. Mỗi kĩ năng lại gồm hai phần (phần thể hiện những yếu tố biểu hiện cơ bản và phần cụ thể hóa cho từng kĩ năng theo từng lớp) [71, tr.553-558] 15 Tác giả Phạm Thị Thu Hiền [53] lại so sánh vấn đề ĐH trong chƣơng trình Ngữ văn ở Việt Nam và một số nƣớc trên thế giới nhƣ Hàn Quốc, Singapore và bang Califorlia của Mĩ trên các phƣơng diện: mục tiêu ĐH, chuẩn ĐH, văn bản ĐH, phƣơng pháp dạy ĐH, đánh giá kết quả ĐH. Tác giả kết luận: - Về mục tiêu ĐH: Các chƣơng trình đều coi trọng ĐH nhƣ một kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ quan trọng cần đƣợc hình thành và phát triển cho HS trong quá trình học phổ thông.
Chƣơng trình của Việt Nam chú trọng mục tiêu hình thành NL tiếp nhận văn học hơn là mục tiêu hình thành năng lực ĐHVB nhƣ ở các nƣớc khác. - Về chuẩn ĐH, nhìn chung chƣơng trình Ngữ văn ở Việt Nam chƣa có sự nhất quán đồng bộ giữa các cấp học. Mức độ cần đạt về mặt kĩ năng đọc còn mang tính chung chung chƣa cụ thể thành những chuẩn thực hiện để đo trình độ đọc của HS nhƣ các nƣớc khác. - Về văn bản ĐH: Các chƣơng trình đều lấy hai loại VB làm đối tƣợng của ĐH trong nhà trƣờng đó là VB văn học và VB thông.
Tuy nhiên, chƣơng trình Ngữ văn của Việt Nam số lƣợng VB văn học chiếm tỉ lệ cao hơn. - Về đánh giá kết quả ĐH: Phần lớn chƣơng trình của các nƣớc đều không nêu riêng cách đánh giá kết quả ĐHVB mà chỉ nêu những vấn đề liên quan đến việc đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn nói chung qua các phƣơng diện: vai trò, mục tiêu, nội dung, phƣơng thức, tiêu chuẩn, công cụ, chủ thể đánh giá. Các chƣơng trình đều coi chuẩn ĐH là căn cứ để đánh giá năng lực ĐHVB của HS. Vấn đề hƣớng dẫn HS đọc hiểu VB cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Theo tác giả Đỗ Ngọc Thống, trong phần giải thích chƣơng trình, các tác giả SGK đã đƣa ra định hƣớng về cách đọc VB cho HS: Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm, hiểu ý nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch cảm xúc. Trƣớc khi giới thiệu nội dung VB, sách giáo khoa định hƣớng HS đọc hiểu VB qua phần Kết quả cần đạt ở cả hai phƣơng diện: nội dung và nghệ thuật. Từ kết quả cần đạt, sách giáo khoa hướng dẫn HS học bài. Phần câu hỏi hƣớng dẫn học bài trong SGK đã chú ý đến việc rèn luyện cho HS khả năng ĐHVB.
Các loại câu hỏi yêu cầu đọc diễn cảm, xác định giọng điệu cơ bản của tác phẩm, cảm nhận về các yếu tố của văn bản đã giảm so với bộ SGK cũ mà thay vào đó loại câu hỏi yêu cầu HS vận dụng hiểu biết về đặc trƣng thể loại để khám phá tác phẩm có phần gia tăng. Dạng câu hỏi này xuất hiện phổ biến trong cả hai bộ sách Ngữ văn và Ngữ văn nâng 16 cao. Nếu so sánh giữa SGK Ngữ văn và Ngữ văn nâng cao, chúng ta sẽ nhận thấy một vấn đề nổi bật: SGK nâng cao chú ý nhiều hơn đến việc rèn luyện NL đọc hiểu cho HS, đặc biệt nội dung này đƣợc tập trung kĩ vào phần Luyện tập [124]. Nhóm tác giả Nguyễn Kim Phong, Đặng Tƣơng Nhƣ, Đỗ Ngọc Bích lại hƣớng đến việc rèn kĩ năng ĐHVB cho học sinh THCS, THPT qua bộ sách tham khảo: Kĩ năng đọc hiểu văn bản Ngữ văn 6, Kĩ năng đọc hiểu văn bản Ngữ văn 7, Kĩ năng đọc hiểu văn bản Ngữ văn 8, Kĩ năng đọc hiểu văn bản Ngữ văn 9… Kĩ năng đọc hiểu văn bản Ngữ văn 12.
Các tác giả cho rằng: “Muốn tiếp nhận các giá trị tƣ tƣởng và nghệ thuật của VB văn học, HS phải tự mình đọc: từ hiểu ngôn từ, hiểu ý nghĩa của hình tƣợng, tƣ tƣởng - tình cảm của tác giả để hình thành đƣợc sự đánh giá VB văn học đó, cao hơn, biết thƣởng thức các giá trị của VB nghệ thuật văn chƣơng. Muốn hình thành kĩ năng đọc, HS nên cố gắng tạo cho mình thói quen đọc sách, nhất là đọc nhiều tác phẩm văn học, tập cách tra cứu từ điển để hiểu từ ngữ, khái niệm” [98, tr. Nhóm tác giả Lê Trƣờng Phát, Nguyễn Thị Bích Hà, Phan Ngọc Anh, Đào Thị Thu Hiền, Phạm Đặng Xuân Hƣơng lại đƣa ra kinh nghiệm đọc hiểu tác phẩm văn học dân gian trong trƣờng phổ thông. Theo các tác giả: “Để đọc hiểu văn bản văn học dân gian, ngƣời đọc cần phải xác định đặc trƣng thể loại của VB… Văn bản văn học dân gian trải qua quá trình truyền miệng, chỉ có thể là phát ngôn chung của cả tập thể nhân dân… Khi tập thể nhân dân cùng nói về một hiện tƣợng nào đó thì cách nói của họ, tùy tính chất của đối tƣợng mà có những đặc điểm riêng.
Những đặc điểm riêng trong lời nói và trong cách phản ánh ấy tập hợp lại tạo nên đặc trƣng từng thể loại” [99, tr. Nhƣ vậy, dù đứng ở góc độ nào các nhà nghiên cứu cũng đều khẳng định đọc là một hoạt động đòi hỏi phải vận dụng nhiều kĩ năng. Đọc hiểu là một NL trong tiếp nhận văn bản, là cái đích cuối cùng của việc đọc. Không có phƣơng pháp vạn năng nào có thể chỉ dẫn đúng đắn, hiệu quả việc ĐH từng VB nhƣng sẽ có chìa khóa để giúp con ngƣời biết cách giải mã các loại hình văn bản cụ thể.
Nghiên cứu về dạy đọc hiểu văn bản 2. Thành tựu nghiên cứu ở nước ngoài Ở nƣớc ngoài, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề dạy ĐHVB nhƣ: Micheal Presslay, Marion D. Alan Robinson, Taffy E. Các nhà nghiên cứu đều khẳng định vai trò quan trọng của hệ thống câu hỏi và kiến thức nền trong quá trình dạy đọc hiểu văn bản.
Trong cuốn Handbook of reading reseach (Cẩm nang đọc), tác giả Micheal Presslay cho rằng: vấn đề quan trọng khi dạy đọc hiểu là làm việc trên VB gốc. Vì thế, cần phải dạy đọc hiểu từ ngữ, phát triển vốn từ vựng và phát triển khả năng giải thích khái niệm là công việc quan trọng giúp học sinh ĐHVB [DT, 76]. Raphael và Ephrieda H. Hiebert đƣa ra năm thủ thuật nhằm giúp HS hiểu văn bản, đó là: Xác định ý chính; tóm tắt thông tin; suy luận; đặt câu hỏi; theo dõi khả năng hiểu.
Những thủ thuật này sẽ cung cấp cho HS nền tảng để đọc hiểu [157, tr. Trong bài báo cáo tại Hội nghị đọc lần thứ tƣ tổ chức ở Brisbane, tác giả H. Alan Robison đã nhấn mạnh vai trò của câu hỏi trong dạy đọc hiểu. Tác giả cho rằng sử dụng câu hỏi phong phú là cách thức để GV đánh giá khả năng của từng HS trong từng bài học.
Mặt khác, GV cần phải quan tâm đến kiến thức nền của HS và hƣớng HS đến nhiều mục đích đọc khác nhau để gia tăng sự hiểu biết cho HS [156]. Chƣơng trình và SGK của một số nƣớc Mĩ, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Australia cũng luôn xác định phƣơng pháp đọc là một NL quan trọng cần phải hình thành và phát triển cho HS. Chính vì vậy, ngƣời GV khi dạy ĐHVB không chỉ tập trung vào việc giúp HS củng cố kiến thức mà quan trọng hơn cần phải nâng cao NL đọc hiểu văn bản cho HS, để HS tích cực, chủ động hơn trong quá trình đọc VB. Công trình nghiên cứu của tác giả Lƣu Thị Trƣờng Giang đã khái quát những nội dung chính của chƣơng trình và SGK ở một số nƣớc nhƣ sau: Về chương trình: CT Tiếng Anh của Singapore xác định mục tiêu dạy ĐHVB là xây dựng và củng cố nền tảng của các kĩ năng, chiến lƣợc, thái độ, hành vi đọc và quan sát các kĩ năng, chiến lƣợc ĐH các loại VB cụ thể, tăng cƣờng việc đọc và quan sát rộng rãi.
CT đã đƣa ra sáu nguyên tắc dạy ĐHVB: “Coi trọng bối cảnh, lấy ngƣời học làm trung tâm, tập trung/nhấn mạnh vào sự tƣơng tác, tích hợp, coi trọng GV, quy trình đƣờng xoắn ốc” [DT, 44, tr. CT Tiếng Hàn nhấn mạnh mục đích bồi dƣỡng cho HS những khả năng và thái độ, quan điểm cần thiết để sử dụng tiếng Hàn một cách hiệu quả, sáng tạo. CT cũng quan tâm tới việc trang bị cho HS những kiến thức và kĩ năng cần thiết đề có thể sử 18 dụng trong các tình huống khác nhau nhằm góp phần xây dựng văn hóa Hàn Quốc. CT chú trọng sử dụng các phƣơng pháp tổ chức hoạt động (làm việc theo lớp, làm việc nhóm, làm việc độc lập, dự án, hợp đồng…) kết hợp với phƣơng pháp ĐH cho HS.
Chuẩn CT chung của bang California - Mĩ xác định mục tiêu cơ bản là giúp HS có khả năng đọc một cách có ý thức và kĩ lƣỡng. HS phải có khả năng phân tích các văn bản nghệ thuật và văn bản phi hƣ cấu trong một thế giới bùng nổ các loại văn bản và phần mềm kĩ thuật số. Về sách giáo khoa: SGK Ngữ văn Trung Quốc đề cao mục tiêu phát triển NL đọc hiểu độc lập của HS, (phát hiện vấn đề, nêu vấn đề, phân tích, phán đoán, đánh giá), chú ý việc cá tính hóa trong đọc (những cảm thụ và thể nghiệm độc đáo trong hoạt động tƣ duy), vận dụng linh hoạt các phƣơng pháp đọc (đọc kĩ, đọc lƣợc, đọc lƣớt, đọc nhanh). SGK Ngữ văn Trung Quốc có sự tích hợp giữa đọc và viết (trong 3 - 4 câu hỏi đọc hiểu cho mỗi VB, câu hỏi cuối cùng thƣờng là câu hỏi yêu cầu HS viết một đoạn văn / bài văn về một chủ đề mà tác phẩm đề cập đến).
Điều đáng nói là các bộ SGK, sách bài tập của các nƣớc này cũng hƣớng dẫn HS cách đọc VB theo một quy trình thống nhất [DT, 44, tr. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Lâm cũng cho rằng: “Trong chƣơng trình các bang của Hoa Kì, các cuốn sách bài tập đã hƣớng dẫn HS cách đọc văn bản theo từng giai đoạn và cấp độ đọc nhƣ: Bắt đầu đọc (Start reading) Đọc mở rộng (Spectrum Reading) Đọc chi tiết (Reading for delail) Đọc giữa dòng (Reading between the line)…” [DT, 78, tr. câu hỏi và bài tập trong SGK và sách bài tập của Australia lại bám sát yêu cầu của chuẩn chƣơng trình và mục tiêu phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS.