Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trong chương này sẽ giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu, xác định mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề tài, ý nghĩa khoa học của nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Chương 2: Tiềm năng du lịch tại TP.Nha Trang Giới thiệu tổng quan về Thành pho Nha Trang cùng với tiềm năng du lịch hiện có và thực trạng du lịch hiện nay ở Nha Trang. Bên cạnh đó khái quát về tình hình hoạt động của các cơ sở lưu trú hostel ở Nha Trang. Chương 3: Cơ sở thực tiễn - lý thuyết nghiên cứu Giới thiệu cơ sở thực tiễn và lý thuyết về mô hình lưu trú hostel, lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đi du lịch và lựa chọn loại hình lưu trú du lịch của du khách.
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu 4 Giới thiệu phương pháp nghiên cứu, giới thiệu mô hình, phương pháp thu nhập dữ liệu. Chương 5: Phân tích kết quà nghiên cứu Mô tả, phân tích thống kê dữ liệu, kết quả phân tích của mô hình nghiên cứu, xác định yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ sờ lưu trú du lịch của du khách. Chương 6: Kết luận và khuyến nghị Tổng két vấn đề nghiên cứu, đưa ra những nhận định và đề xuất nhân rộng loại hình lưu trú hostel ở TP. Nha Trang để đáp ứng được nhu cầu lưu trú của khách du lịch.
5 CHƯƠNG 2: TIÈM NÀNG DU LỊCH TẠI THÀNH PHÔ NHA TRANG 2. Tổng quan về Thành Phố Nha Trang Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, du lịch của tỉnh Khánh Hòa. Nha Trang với điều kiện thiên nhiên ưu đãi cả về vị trí, cành quan thiên nhiên, khí hậu, cùng với nền tảng về lịch sử và nhân văn tạo dựng nên điểm đến du lịch Nha Trang thu hút nhiều du khách với nhiều loại hình du lịch đa dạng. VỊ trí địa lý Thành phố Nha Trang nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Khánh Hòa, phía Bắc giáp Thị xã Ninh Hòa, phía Nam giáp Thành phố Cam Ranh, phía tây giáp Thị xã Diên Khánh, trong một thung lũng núi vây ba phía Bẳc Tây Nam và phía Đông tiếp giáp bờ biển.
Sông Cái Nha Trang và sông Cửa Bé chia Nha Trang thành 3 phần gồm 27 xã phường: Phía Bắc sông Cái gồm các xã Vĩnh Lương, Vĩnh Phương, Vĩnh Ngọc và khu vực Đồng Đế gồm các phường Vĩnh Phước, Vĩnh Hài, Vĩnh Hoà, Vĩnh Thọ. Phía Nam sông Cửa Bé là xã Phước Đồng với địa danh "Chiến khu Đồng Bò" và một vùng lý tường cho du lịch trong tương lai là rừng dừa sông Lô. Trung tâm Nha Trang nẳm giữa hai con sông, gồm khu vực nội thành với các phường Xương Huân, Vạn Thanh, Vạn Thắng, Phưcmg Sài, Phương Sơn, Ngọc Hiệp, Phước Tiến, Phước Tân, Phước Hòa, Tân Lập, Lộc Thọ, Phước Hải, Phước Long, Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên và các xã ngoại thành phía tây gồm Vĩnh Hiệp, Vĩnh Thái, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Trung. p Vạn Thạnh 4 p Phước Tân 5.
p Phước Tiến 6. p Phước Long 9 p Vĩnh Nguyên Hổn Câu BIỂN DÓNG Hôn Dung Thâi VTnh Truờng Hòn Tre OIEN Phước Đỗng KHÁNH - T. Hòn Tátn Hốn Mun TX. CAM RANH Hình 2.3: Bản đồ Thành phố Nha Trang Nha Trang cách Thủ đô Hà Nội 1.280km, cách thành phố Hồ Chí Minh 448km, Cố đô Huế 630km, Phan Rang 105km, Phan Thiết 260km, cần Thơ 620km.
Điều kiện tự nhiên 2. Địa hình Địa hình Nha Trang khá phức tạp có độ cao trãi dài từ 0 đến 900m so với mặt nước biển được chia thành 3 vùng địa hình. Vùng đồng bằng duyên hải và ven sông Cái có diện tích khoảng 81,3km2, chiếm 32,33% diện tích toàn thành phố; vùng chuyển tiếp và các đồi thấp có độ dốc từ 30 đến 150 chủ yếu nằm ở phía Tây và Đông Nam hoặc trên các đảo nhỏ chiếm 36,24% diện tích, vùng núi có địa hình dốc trên 150 phân bố ở hai đầu Bắc - Nam thành phố, trên đảo Hòn Tre và một số đảo đá chiếm 31,43% diện tích toàn thành phố. Nha Trang có 19 hòn đảo, với ưên 2.500 hộ và khoảng 15.000 người sống trên các đảo.
Đảo lớn nhất là Hòn Tre rộng 36km2 nằm che chắn ngoài khơi khiến cho vịnh Nha Trang trở nên kín gió và êm sóng. Khi hậu Nha Trang có khí hậu nhiết đới xavan chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Khí hậu Nha Trang tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm là 26,3oC. Có mùa đông ít lạnh và mùa khô kéo dài.
Mùa mưa lệch về mùa đông bat đầu từ tháng 9 và két thúc vào tháng 12 dương lịch, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cà năm (1. Khoảng 10 đến 20% số năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 7, 8 và kết thúc sớm vào tháng 11. So với các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ, Nha Trang là vùng có điều kiện khí hậu thời tiết khá thuận lợi để khai thác du lịch hầu như quanh năm. Những đặc trưng chủ yếu cùa khí hậu Nha Trang là: nhiệt độ ôn hòa quanh năm (25oC - 26oC), tổng tích ôn lớn (> 9.500oC), sự phân mùa khá rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) và ít bị ảnh hưởng của bão.
Sông ngòi Thành phố có nhiều sông suối tập trung ở 2 hệ thống sông chính là sông Cái Nha Trang và sông Cừa Bé (Vĩnh Trường). Sông Cái Nha Trang (còn có tên gọi là sông Phú Lộc, sông Cù) có chiều dài 75 km, bắt nguồn từ đinh Chư Tgo cao 1.475 m, chảy qua các huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh và thành pho Nha Trang rồi đổ ra biển ở Cửa Lớn (Đại Cù Huân). Đoạn hạ lưu thuộc địa phận Nha Trang có chiều dài khoảng 10 km. Sông là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất công-nông nghiệp, du lịch-dịch vụ và sinh hoạt dân cư cho thành phố và các huyện lân cận.
Sông Quán Trường (hay Quán Tường) là 1 hệ thống sông nhỏ có chiều dài khoảng 15 km, chảy qua địa phận các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Thái, Phước Đồng và 3 phường Phước Long, Phước Hải, Vĩnh Trường rồi đổ ra Cửa Bé. Sông chia thành 2 nhánh: nhánh phía Đông (nhánh chính) có chiều dài 9 km và nhánh phía Tây (còn gọi là sông Tắc) dài 6 km. Thủy triều vùng biển Nha Trang thuộc dạng nhật triều không đều, biên độ trung bình lớn nhất từ 1,4 - 3,4 m. Độ mặn biến thiên theo mùa từ 1 - 3,6%.
Tài nguyên nhân văn 2. Văn hóa-lễ hội 8 Ở Nha Trang có những lễ hội độc đáo gắn liền với tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người dân nơi đây: Lễ hội cầu ngư: Đối với dân địa phương cá voi được gọi là Cá Ông và chôn cất trong ngôi mộ được gọi là Lăng Ông. Hàng năm, ngư dân tổ chức lễ hội vào ngày khi cá voi chết và tiến hành lễ cầu mong cho một năm đánh bat cá thuận lợi. Lễ hội Tháp Bà Ponagar diễn ra từ ngày 20 đến 23 tháng 3 âm lịch hàng năm.
Đây là lễ hội được người dân tổ chức lớn nhất để tưởng niệm nữ thần Mẹ Xứ sờ, là người mà truyền thuyết có công tạo lập xứ sở, duy trì nòi giong, tìm ra cây lúa, dạy dân trồng trọt. Lễ hội Yen Sào: Khai thác yến sào là một nghề truyền thống của người dân Khánh Hòa- Nha Trang. Nơi đây là một trong nhũng cung cấp nguồn yến sào bổ dưỡng và chất lượng cao cho toàn quốc. Được tổ chức thường niên trên đảo yến Hòn Nội, lễ hội Yến Sào tôn vinh truyền thống lịch sử ngành nghề, ngày nay lễ hội diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật truyền thống và đương đại nham quảng bá giới thiệu với du khách khám phá nét văn hóa độc đáo về vùng đất được nhiều quà tặng của thiên nhiên và con người nơi đây.
Festival biển Nha Trang dược tổ chức từ năm 2009, Festival biển Nha Trang dần trờ thành lễ hội thường niên tại nơi đây và ngày càng có quy mô lớn hon. Lễ hội là nơi giao lưu vãn hóa giữa các nước quốc tế với Việt Nam. Có nhiều hoạt động hấp dẫn được tổ chức: Triển lãm du thuyền; Diễu hành du thuyền quanh đảo Hòn Tre; Ca múa nhạc vì Trường Sa thân yêu; Ngày vì môi trường biển Nha Trang; Lễ hội rượu vang, ẩm thực quốc te; Triển lãm và diễu hành siêu xe; Biểu diễn nghệ thuật của các quốc gia tham dự Festival. Ẩm thực Ngoài các sản vật biển, Nha Trang có nước yến/yến sào (hay tổ chim yến được chúng làm từ nước dãi của mình) và nem nướng Ninh Hòa.
Ngoài ra, nói đên các món dân dã Nha Trang còn nổi tiếng qua món bún cá hay bánh căn. Với món bánh canh Nha Trang thì không giống với bất kỳ ở một địa phương nào khác, nước lèo được làm từ chất ngọt của cá cộng với bột bánh canh tạo nên một hương vị khó quên. Ngoài ra tại Nha Trang còn có bong bóng cá, vi cá, nước mắm, khô cá thu được xếp vào loại ngon. Hải sản Nha Trang đa dạng và phong phú với rất nhiều loại và vô số những món ăn khác nhau, nổi tiếng có món nhum - còn gọi là cầu gai hay nhím biển ăn sống với cải bẹ xanh.
Làng nghề thù công Cho đến nay, việc sưu tầm, nghiên cứu một cách khoa học và hệ thống về các nghề và làng nghề truyền thống ở Khánh Hòa vẫn còn là một khoảng trắng. Tuy nhiên, qua khảo sát sơ bộ cũng cho thay số lượng các nghề truyền thong ở Khánh Hòa nói chung và ở Nha Trang nói riêng là khá phong phú và bao quát mọi lĩnh vực cơ bản của cuộc sống vật chất và tinh thần cùa nhân dân. Gọi là nghề truyền thống vì các nghề này mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, có một bề dày lịch sử và nay vẫn còn phát huy giá trị tích cực trong các mặt sản xuất và đời sống ờ địa phương. Những di sản này đã góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa Khánh Hòa trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, cần được chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm bảo tồn và phát triển.
Ở Khánh Hòa, nghề làm nước mắm đã có từ lâu đời. Nước mắm cá cơm của Nha Trang trong vắt, vàng ươm, có mùi thơm đặc biệt hấp dẫn. Nước mắm sản xuất ra không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh mà còn được đem bán với khối lượng lớn cho các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc. Từ lâu, các thương hiệu nước mam Cửa Bé (Vĩnh Trường), nước mam Chụt (Vĩnh Nguyên) của TP.
Nha Trang đã nổi tiếng trên toàn quốc.