phần Mở đầu và Kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1:“Nội dung chƣơng 1 trình bày các cơ sở lý thuyết về liên kết hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và của công ty du lịch nói riêng. Cơ sở hình thành liên kết hoạt động của các công ty du lịch xuất phát từ sự phân công lao động trong xã hội; sự khác biệt về lợi thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khu vực quốc gia; cũng nhƣ do chính đặc điểm của sản phẩm du lịch. Trong chƣơng này tác giả chỉ ra các nội dung, hình thức liên kết, các yếu tố ảnh hƣởng đến liên kết hoạt động của các công ty du lịch. Nội dung liên kết giữa các công ty du lịch với các đối tác là liên kết để cung ứng các sản phẩm dịch vụ du lịch, cùng nhau xây dựng các sản phẩm mang tính đặc trƣng khác biệt, liên kết trong đào tạo chia sẻ nguồn nhân lực cũng nhƣ phối hợp với nhau để xây dựng tổ chức các chƣơng trình xúc tiến quảng bá hình ảnh du lịch… Về hình thức liên kết thì các công ty có thể liên kết với ” các đối tác theo chiều ngang, liên kết theo chiều dọc hoặc liên kết hỗn hợp, trong đó liên kết theo chiều ngang ví dụ nhƣ giữa các công ty du lịch với nhau, với các đại lý lữ hành nhằm chia sẻ các nguồn lực với mục đích nâng cao chất lƣợng đồng thời tinh giảm chi phí; trong khi liên kết theo chiều dọc ví dụ nhƣ liên kết giữa các công ty du lịch với các nhà cung cấp nhƣ các hãng hàng không, các công ty vận tải, khách sạn, nhà hàng, điểm du lịch… nhằm đẩy nhanh luồng vật chất di chuyển trong chuỗi trên cơ sở đó tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nghiên cứu cũng “ đã tổng hợp lại và đƣa ra mô hình các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình liên kết hoạt động của các doanh nghiệp nhƣ: Sự tin tƣởng, sự cam kết, sự sẵn sàng tham gia hợp tác, sự phụ thuộc lẫn nhau cũng nhƣ văn hóa hợp tác, đây là những yếu tố mà tác giả cho là có ảnh hƣởng lớn nhất đến kết quả của quá trình liên kết. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra liên kết hoạt động giữa các doanh nghiệp có tác động thuận chiều đến kết quả hoạt động kinh doanh, năng lực cạnh tranh cũng nhƣ khả năng mang đến sự hài lòng cho du khách. Trong chƣơng này nghiên cứu cũng trình bày giới thiệu về Cộng đồng Kinh tế ASEAN, vai trò của du lịch cũng nhƣ các cam kết liên quan đến du lịch trong AEC để thấy đƣợc yêu cầu phải liên kết giữa các doanh nghiệp. iv Chƣơng 2“đi sâu vào nghiên cứu thực trạng liên kết hoạt động của các công ty du lịch Việt Nam, cụ thể là nghiên cứu phân tích thực trạng liên kết hoạt động của một số công ty du lịch tiêu biểu nhƣ Vietravel, Saigontourist, Vietjetair, Vietstran.
Đây là những doanh nghiệp du lịch lữ hành tiêu biểu liên tiếp đứng trong danh sách các doanh nghiệp lữ hành hàng đầu của nƣớc ta trong mấy năm gần đây. Việc nghiên cứu thực trạng liên kết hoạt động của các doanh nghiệp này để khẳng định lại rằng liên kết hoạt động có ảnh hƣởng tới kết quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh cũng nhƣ khả năng mang tới sự hài lòng cho khách hàng. Từ quá trình phân tích liên kết hoạt động của các công ty du lịch tiêu biểu này với các đối tác, nghiên cứu cũng đã chỉ ra đƣợc những kết quả mà liên kết đã đạt đƣợc cũng nhƣ những khó khăn hạn chế còn gặp phải trong liên kết, tìm ra nguyên nhân và đƣa ra các khuyến nghị để thúc đẩy liên kết, phƣơng hƣớng giải quyết khắc phục những khó khăn hạn”chế. Chƣơng 3 trình bày“phƣơng hƣớng phát triển Du lịch trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN, những định hƣớng chiến lƣợc phát triển du lịch nhƣ: (1) Nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch ASEAN với tƣ cách là điểm đến chung; (2) Đảm bảo phát triển bền vững và toàn diện, cùng định hƣớng thúc đẩy phát triển lao động nghề du lịch; các dự báo về sự phát triển du lịch ASEAN trong thời gian tới; cũng nhƣ những quan điểm, mục tiêu và định hƣớng của Chính phủ Việt Nam về phát triển du lịch quốc gia.
Từ thực trạng liên kết hoạt động của các công ty du lịch trình bày ở chƣơng 2 và phƣơng hƣớng phát triển du lịch trong nƣớc cũng nhƣ trong khu vực ASEAN tác giả đƣa ra một số khuyến nghị với các doanh nghiệp để tăng cƣờng liên kết hoạt động với các đối tác, thúc đẩy những mối liên kết sẵn có, mở rộng thêm các mối quan hệ liên kết với những đối tác khác.”Ngoài ra nghiên cứu đƣa ra một số khuyến nghị với các Cơ quan quản lý Nhà nƣớc về Du lịch nhằm taọ lập môi trƣờng thúc đẩy liên kết. Ngoài ý nghĩa“về mặt lý luận khi đƣa ra mô hình các yếu tố ảnh hƣởng đến liên kết hoạt động của các công ty du lịch với đối tác và chỉ ra tác động của quá v trình liên kết hoạt động đến kết quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, về mặt thực tiễn luận văn đã chỉ ra đƣợc vai trò và kết quả của liên kết hoạt động tới sự phát triển của các công ty du lịch Việt Nam trong điều kiện Cộng đồng Kinh tế ASEAN, những kết quả đạt đƣợc cũng nhƣ những hạn chế còn gặp phải trong quá trình liên kết.”Từ đó đƣa ra khuyến nghị với các doanh nghiệp cũng nhƣ Cơ quan ban ngành có liên quan. Tính cấp thiết của đề tài Liên kết“là xu hƣớng tất yếu của phát triển. Sự phát triển của ngành Du lịch cũng không nằm ngoài quy luật này.
Liên kết đang là vấn đề đƣợc nhắc đến nhiều trong thời điểm gần đây“nhƣ là liên kết ngành, liên kết vùng hay là liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp với ngƣời nông dân,”liên kết giữa các doanh nghiệp chế biến gỗ với nhà cung cấp nguyên liệu,”liên kết trong các ngành dệt may, lắp ráp chế tạo, ngân hàng bảo hiểm…Vấn đề liên kết phát triển trong lĩnh vực du lịch cũng đƣợc đề cấp đến nhiều trong các cuộc hội thảo họp báo cũng nhƣ trong chiến lƣợc phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, trong đó Thủ tƣớng đã nêu rõ quan điểm: “Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nƣớc cho đầu tƣ phát triển du lịch; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế quốc gia về yếu tố tự nhiên và văn hóa dân tộc, thế mạnh đặc trƣng các vùng, miền trong cả nƣớc; tăng cường liên kết phát triển du lịch”. Vì vậy nghiên cứu về vấn đề liên kết trong lĩnh vực Du lịch là cần thiết trong thời điểm hiện nay. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa. Sản phẩm du lịch sử dụng các yếu tố đầu vào từ nhiều ngành và nhiều lĩnh vực khác nhau (Theo Báo cáo chuyên đề Du lịch Việt Nam thực trạng và giải pháp phát triển của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2014) nên mỗi một doanh nghiệp không thể tự mình cung ứng đƣợc hết mọi yêu cầu của khách hàng mà đòi hỏi doanh nghiệp phải liên kết hợp tác cùng với các đối tác trong ngành.
Vì vậy muốn cho ngành này phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn cần phải tăng cƣờng các mối quan hệ liên kết giữa các đơn vị làm du lịch với nhau, vai trò của việc liên kết vô cùng quan trọng, bởi nó ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng sản phẩm, đến khả năng phục vụ du khách và kết quả kinh doanh.”Thông qua việc liên kết với các đối tác trong ngành”(liên kết theo chiều ngang) các công ty du lịch có khả năng đáp ứng đƣợc các đơn hàng lớn hơn,”khả năng cung cấp sản phẩm du lịch đa dạng và đồng bộ hơn,”tận dụng đƣợc lợi thế 2 của từng doanh nghiệp cũng nhƣ gia tăng lợi ích từ quy mô kinh tế. Tuy nhiên ở nƣớc ta các nghiên cứu về đề tài này còn hạn chế, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào mối quan hệ với các nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, Ngày 22/11/2015, tại”Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 27 diễn ra ở Thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia, Lãnh đạo của 10 quốc gia thành viên ASEAN đã đặt bút ký văn kiện lịch sử Tuyên bố hình thành Cộng đồng ASEAN 2015,”trong đó nêu rõ”“sự hình thành của Cộng đồng ASEAN đã tạo ra một dấu mốc trong tiến trình liên kết, bảo đảm hòa bình, an ninh và tự cƣờng dài lâu trong một khu vực hƣớng ra bên ngoài, với các nền kinh tế năng động, cạnh tranh và liên kết sâu rộng, và một cộng đồng thu nạp dựa trên ý thức mạnh mẽ về sự gắn kết và bản sắc chung”. Hội nhập“AEC là một bƣớc ngoặt đánh dấu sự hội nhập khu vực một cách toàn diện của các nền kinh tế Đông Nam Á, qua đó mang lại những tác”động tới”nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Du lịch nói riêng.
Qua quá trình hợp tác lâu dài cũng nhƣ những kết quả và lợi ích mang lại, có thể khẳng định rằng ASEAN cũng nhƣ AEC có vai trò đặc biệt quan trọng đối với Du lịch Việt Nam. Với dân số hơn 500 triệu dân, trong những năm qua, các thị trƣờng nguồn du lịch thuộc khu vực ASEAN đóng góp khoảng 20% tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Một số nƣớc ASEAN nhƣ Thái Lan, Singapore, Malaysia vừa là thị trƣờng nguồn, vừa đóng vai trò là cửa ngõ quan trọng để khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Hợp tác du lịch với các nƣớc ASEAN là quan hệ cùng có lợi khi các nƣớc cùng hợp tác, bổ sung cho nhau về tất cả các khía cạnh trong phát triển du lịch, hỗ trợ nhau đồng thời cũng là hỗ trợ chính mình.
Tuy nhiên, đây là quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, theo đó lợi ích đối với mỗi nƣớc phụ thuộc vào nỗ lực và khả năng của từng nƣớc.” “ Việc Việt Nam chính thức gia nhập AEC sẽ có những tác động trực tiếp và gián tiếp đến tất cả các đối tƣợng trong ngành Du lịch, từ các cơ quan quản lý nhà nƣớc đến các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, các cơ sở đào tạo, ngƣời lao động và thậm chí cả khách du lịch nội khối cũng nhƣ khách du lịch quốc tế đến khu vực. Khi Việt Nam gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Du lịch Việt Nam 3 đứng trƣớc những cơ hội và thách”thức đan xen.