MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Biển và đại dƣơng chiếm khoảng 71% diện tích bề mặt trái đất. Con ngƣời thực chất đang sống trên những hòn đảo khổng lồ giữa các đại d- ƣơng mênh mông của một quả cầu nƣớc. Đƣợc sinh ra và tiến hoá trên bề mặt các hòn đảo đó, từ lâu con ngƣời vẫn sống chủ yếu dựa vào diện tích canh tác hạn chế trên đất liền.
Ngày nay, con ngƣời đang đứng trong tƣ thế tiến chiếm các vùng nƣớc mênh mông, giàu có và khai thác biển trở nên bức thiết khi các giá trị tài nguyên trên lục địa ngày càng bị suy thoái, cạn kiệt trƣớc sức ép của gia tăng dân số và tốc độ khai thác. Những hoạt động của con ngƣời trên biển đã tạo ra một hình thái kinh tế mới - kinh tế biển. Hội nghị lần thứ tƣ Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá X năm 2007 đã ra "Nghị quyết về chiến lƣợc biển đến năm 2020" xác định: ". phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 53% - 55% GDP và 55% - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước", trong đó mức đóng góp của du lịch biển trong tổng GDP của nền kinh tế biển vào khoảng 14 - 15%.
"Trở thành một nước mạnh về biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam". Nếu không phát triển kinh tế biển thì Việt Nam sẽ có nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nƣớc trong khu vực đang vƣơn mạnh ra biển. Trên phạm vi toàn thế giới, du lịch biển và hải đảo có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động phát triển du lịch và các ngành kinh tế biển. Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới, hàng năm số lƣợng khách du lịch quốc tế tham gia vào các hoạt động du lịch biển chiếm khoảng 80% z tổng số khách.
Các nƣớc có du lịch biển phát triển nhƣ Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Italia. là những nƣớc đứng đầu về lƣợng khách quốc tế. Mặt khác, do sự phân bố về mặt địa lý kinh tế, phần lớn trung tâm công nghiệp, đô thị lớn ở các nƣớc đều tập trung ở vùng ven biển. Chính vì vậy, ngoài lƣợng khách quốc tế, một lƣợng khách nội địa còn lớn hơn rất nhiều hàng năm đƣợc cuốn hút vào hoạt động du lịch biển.
Nhiều quốc gia nhƣ Maldies, Fiji, bang Hawai (Hoa Kỳ), Queenland (Úc). từ lâu coi du lịch biển là ngành kinh tế chính. Việt Nam có lợi thế lớn về tài nguyên cho phát triển du lịch biển: đ- ƣờng bờ biển dài 3260 km, 125 bãi tắm, gần 4000 hòn đảo lớn nhỏ, cùng - ƣu thế của vùng biển nhiệt đới quanh năm nắng ấm, cát trắng, nƣớc trong, đa dạng sinh học cao, cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ, nền văn hoá lịch sử lâu đời, giàu bản sắc. Dọc chiều dài bờ biển, mỗi đơn vị lãnh thổ vừa có thế mạnh đặc thù về tài nguyên vừa có khả năng liên kết tạo ra những sản phẩm du lịch biển hấp dẫn, khả năng cạnh tranh cao.
Những năm gần đây, Việt Nam đƣợc nhiều du khách quốc tế lựa chọn là điểm đến cho mục đích tham quan, nghỉ dƣỡng biển. Tuy nhiên, cho đến nay, khai thác tài nguyên du lịch biển ở nƣớc ta chƣa tƣơng xứng với tiềm năng, chủ yếu mới đƣợc triển khai theo chiều rộng, chƣa chú trọng đến định hƣớng xây dựng sản phẩm đặc trƣng nên sản phẩm du lịch biển trùng lặp, ít các sản phẩm du lịch biển cao cấp, khai thác thiếu tính bền vững. Điều này ảnh hƣởng đến sức hấp dẫn của du lịch biển Việt Nam và ảnh hƣởng đến mức độ đóng góp của du lịch biển vào phát triển kinh tế biển với tƣ cách là một trong bốn ngành chủ đạo (giao thông vận tải - dịch vụ hàng hải, thuỷ sản, dầu khí, du lịch biển). Tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu "Tài nguyên du lịch biển Việt Nam cho phát triển du lịch nghỉ dƣỡng" nhằm mục đích đánh giá sự phù hợp và thuận lợi về tài nguyên du lịch biển cho việc triển khai một loại hình du lịch cụ thể, hƣớng tới việc xây dựng một loại hình sản phẩm du z lịch biển cao cấp, có sức cạnh tranh cao cho Việt Nam, đồng thời đƣa ra định hƣớng nhằm sử dụng hiệu quả và tối ƣu nguồn tài nguyên du lịch biển, phát triển du lịch biển làm đòn bẩy cho phát triển du lịch Việt Nam, phát triển kinh tế biển và toàn bộ nền kinh tế - xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt đƣợc mục tiêu nêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu và làm rõ những vấn đề chính sau: - Lý luận về loại hình du lịch nghỉ dƣỡng; thành phần, đặc điểm, tính chất của tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng biển. Đây là những vấn đề lý luận làm căn cứ để nhận diện tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng biển ở Việt Nam. - Tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng biển Việt Nam: liệt kê, đánh giá sự phù hợp, sự hấp dẫn của những loại tài nguyên cơ bản; chỉ ra khu vực có nhiều thuận lợi về mặt tài nguyên; đánh giá điều kiện khai thác tài nguyên. - Thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng biển.
- Định hƣớng nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên bền vững. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng biển Việt Nam. Đây là một vấn đề tƣơng đối rộng. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu đƣợc giới hạn là những loại tài nguyên thiên nhiên có giá trị khai thác cho loại hình du lịch nghỉ dƣỡng của vùng bờ biển (coastal zone) Việt Nam.
Có rất nhiều cách xác định vùng bờ biển dựa trên các quan điểm địa động lực, địa sinh thái, quản lý phát triển. Theo quan điểm phát triển du lịch thì "vùng bờ biển" là khoảng không gian hẹp trong phạm vi tƣơng tác biển - lục địa mà tại đó có các tài nguyên du lịch thu hút du khách. Đó thƣờng là vùng bờ biển cát có bãi tắm, các vách biển và dải đất hẹp ven z biển dùng để phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, rừng ngập mặn, ám tiêu san hô, vùng vịnh, đầm phá, cồn cát. Số liệu thống kê đƣợc sử dụng chủ yếu theo các văn bản đã đƣợc công bố của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch và của Tổng cục Thống kê từ năm 2000.
Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp nghiên cứu là cách thức cụ thể hay công cụ đƣợc sử dụng để nghiên cứu một vấn đề nào đó, nhằm mục đích đi đến kết quả một cách chính xác. Để thực hiện những nội dung nghiên cứu trên, đề tài đã vận dụng linh hoạt nhiều phƣơng pháp khác nhau. Những phƣơng pháp chính đƣợc sử dụng trong đề tài là: - Phƣơng pháp thu thập, hệ thống, tổng hợp, phân tích dữ liệu thứ cấp Để có đƣợc cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu, tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu đƣợc đăng tải trên các tạp chí, đƣợc in thành sách, trên internet. liên quan đến nhiều lĩnh vực mà trực tiếp là du lịch, hải dƣơng học, khí tƣợng, thuỷ văn.
Do kế thừa kết quả của các công trình đã nghiên cứu trƣớc nên giúp tác giả tiết kiệm đƣợc nhiều công sức, kinh phí nhƣng thông tin giữa các nguồn tài liệu thƣờng có sự không nhất quán do thời điểm nghiên cứu và góc độ đánh giá khác nhau nên đòi hỏi tác giả phải phân loại chúng theo độ tin cậy, theo tính thời sự rồi tiến hành hệ thống, tổng hợp, phân tích dữ liệu, đƣa ra những kết luận có căn cứ. - Phƣơng pháp khảo sát thực địa Phƣơng pháp thực địa là một trong những phƣơng pháp quan trọng góp phần làm cho kết quả nghiên cứu mang tính xác thực. Điền dã tại một số bãi biển của miền Bắc và miền Trung giúp tác giả trực tiếp thẩm nhận z giá trị của tài nguyên, bổ sung thêm thông tin, quan sát việc khai thác sử dụng tài nguyên làm căn cứ cho việc đề xuất những giải pháp hợp lý và khả thi. - Phƣơng pháp lấy ý kiến chuyên gia Tác giả đã tham khảo ý kiến đánh giá của TS Phạm Trung Lƣơng - Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch và PGS.TS Nguyễn Chu Hồi - Viện Kinh tế & Quy hoạch Thuỷ sản, Bộ Thuỷ sản - những tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về biển - về tiềm năng du lịch nghỉ dƣỡng của Việt Nam và hiện trạng khai thác.
Những nhận định của các chuyên gia định hƣớng nghiên cứu cho tác giả. - Phƣơng pháp xử lý bằng công cụ tin học 5. Lƣợc sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về biển Đông có lịch sử lâu đời. Các kết quả nghiên cứu đã đƣợc ghi chép và mô tả trong sử sách nhƣ: Dƣ địa chí của Nguyễn Trãi (1435), Toản tập thiên nam tứ chí lộ đồ của Đỗ Bá (1630), Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776), Lịch triều hiến chƣơng loại chí của Phan Huy Chú (1821), Phƣơng đình dƣ địa chí của Nguyễn Siêu (1900).
Năm 1927, Viện Hải dƣơng học đƣợc thành lập ở Nha Trang với vị giám đốc đầu tiên là A.Krempf - một nhà sinh vật học nổi tiếng - đã đánh dấu bƣớc tiến trong công cuộc nghiên cứu biển Đông. Các công trình nghiên cứu của Viện Hải dƣơng học tập trung về thuỷ triều, sinh vật và cá biển. Hệ thống cơ quan quan trắc đƣợc dựng lên ở ven bờ và trên biển có nhiệm vụ thƣờng xuyên nhiệt độ và độ muối. Năm 1954 thành lập thêm Trạm Nghiên cứu biển ở Hải Phòng.
Kết quả nghiên cứu về biển Đông ngày càng nhiều nhƣ: "Nguồn lợi sinh vật biển Đông" (1979), "Biển Đông tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng" của Vũ Trung Tạng (1997); "Thuỷ triều vịnh Bắc Bộ"(1976), "Thuỷ triều vùng biển Việt Nam" (1984), "Thiên nhiên vùng biển nƣớc ta" (1978) của tác giả Nguyễn Ngọc Thụy; "Địa lý tự nhiên biển Đông" (1999) của Nguyễn Văn Âu. Thông tin về biển Đông đƣợc cập z nhật phong phú qua báo cáo định kỳ hàng năm của các cơ quan nghiên cứu về biển chủ yếu nhƣ: Viện Hải dƣơng học Việt Nam, Viện Nghiên cứu hải sản (Bộ Thuỷ sản), Trung tâm Khí tƣợng thuỷ văn biển, Phân viện Cơ học biển (thuộc Viện cơ học). Tuy nhiên đây là những tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về biển của những phân ngành kỹ thuật, tài nguyên du lịch biển đƣợc đề cập đến hết sức sơ sài.