Chương 1 - Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị du lịch ASEAN và sự tham gia của ngành du lịch Việt Nam Chương 2 - Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị du lịch khu vực và sự tham gia của ngành du lịch quốc gia 7 Chương 3 - Phân tích chuỗi giá trị du lịch ASEAN Chương 4 - Phân tích sự tham gia chuỗi giá trị du lịch ASEAN của ngành du lịch Việt Nam Chương 5 - Bối cảnh chung và một số hàm ý chính sách cho ngành du lịch Việt Nam 8 CHƢƠNG 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH ASEAN VÀ SỰ THAM GIA CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM 1. Các kết quả nghiên cứu chính có liên quan 1. Nghiên cứu chuỗi giá trị du lịch khu vực và sự tham gia của ngành du lịch quốc gia 1.
Chuỗi giá trị du lịch khu vực Do xu hướng chuyển đổi mô hình phát triển tự thân trong thế kỷ XX sang mô hình phát triển thông qua việc tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu trong thế kỷ XXI (An Thị Thanh Nhàn, 2010), nền kinh tế toàn cầu được tái cấu trúc xung quanh trọng tâm GVC với cốt lõi là sự phân mảnh sản xuất thành các công đoạn tại các quốc gia khác nhau (Aslam & các cộng sự, 2017). GVC trở thành cách thức tăng trưởng của các nền kinh tế dựa trên những lợi thế cụ thể (APEC, 2016) để thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế (Nguyễn Việt Khôi, 2019), đặc biệt được xem như lộ trình thay thế cho công nghiệp hóa đối với các nước đang phát triển (Doherty & Verghese, 2018). Tuy nhiên, lợi ích được tạo ra chỉ liên quan đến thương mại GVC mà không phải thương mại truyền thống (Ignatenko & các cộng sự, 2019) và phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh để tạo ra giá trị gia tăng (GTGT) (Võ Trí Thành, 2013), do đó các quốc gia cần tập trung khai thác những công đoạn có tỷ trọng lớn để tối đa hóa GTGT trong bối cảnh sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt (Nguyễn Thường Lạng, 2010). Việc tham gia vào một ngành công nghiệp đòi hỏi các quốc gia hoặc doanh nghiệp phải nắm bắt được cách thức hoạt động của ngành đó (Frederick & Daly, 2020), do vậy việc nghiên cứu động thái GVC đóng vai trò quan trọng để khai thác hiệu quả các công đoạn và gia tăng giá trị (Nguyễn Thường Lạng, 2010).
Nghiên cứu GVC cho phép hiểu được cơ chế phân bổ và lan tỏa lợi ích kinh tế (Nguyễn Việt Khôi, 2019), qua đó cung cấp bức tranh toàn cảnh về thị trường, cách thức thâm nhập thị trường (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2002) và cơ sở hoạch định chính sách tham gia GVC nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế (Đỗ Thanh Hải, 2008). 9 GVC không phải là một khái niệm mới và lý thuyết lợi thế so sánh (LTSS) của David Ricardo đã đặt nền móng cho các lý thuyết GVC (APEC, 2016). GVC đã trở thành xu thế khách quan trong chính sách thương mại quốc tế (TMQT) (Nguyễn Thường Lạng, 2014) nhưng tốc độ thay đổi nhanh chóng của những lợi thế này đã dẫn đến sự phân mảnh GVC (APEC, 2016) và sự chuyển dịch địa điểm của các công đoạn (Brunner, 2013). Trong thực tế, các dòng chảy TMQT đang dịch chuyển về mặt địa lý và tạo ra các mô hình khu vực hóa để tận dụng cơ hội phát triển của khu vực (Nguyen & các cộng sự, 2022).
Dưới tác động của các hiệp định thương mại tự do ở cấp độ khu vực (Stephenson, 2013), quá trình sản xuất toàn cầu được phân đoạn giữa các nhóm quốc gia láng giềng hoặc các khối thương mại khu vực (Los & các cộng sự, 2015) khiến GVC mang tính khu vực rõ nét hơn tính toàn cầu với các hoạt động GVC được tái tổ chức dọc theo các khu vực (Choi, 2020). Đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19, quá trình tái cấu trúc GVC được kích hoạt theo các quỹ đạo khác nhau, trong đó có xu hướng khu vực hóa làm rút ngắn GVC trong phạm vi của các khu vực kinh tế và cấu hình lại GVC trở thành RVC (Elia & các cộng sự, 2021). Trước các động thái TMQT theo khu vực địa lý làm thay đổi cấu trúc GVC (Xing, 2016), các quốc gia trong cùng một khu vực đang tận dụng lợi thế chiến lược về sự đa dạng và bổ sung lẫn nhau của thương mại nội khối để tiếp cận thị trường (Nguyen & các cộng sự, 2022) cũng như thực hiện một số biện pháp cụ thể để chuyển đổi GVC thành RVC hoặc chuỗi giá trị trong nước (Elia & các cộng sự, 2021). Tuy nhiên, sự tồn tại và khả năng cạnh tranh của RVC không thể tách rời GVC và việc giải quyết các vấn đề RVC không tách rời các vấn đề tương tự trong GVC (WB, 2015), do đó các quốc gia cần có nghiên cứu cơ sở riêng để hiểu rõ hơn về RVC và định vị trong mối quan hệ giữa RVC và GVC (Munyati & các cộng sự, 2021).
Đồng thời, lý luận về RVC cũng có quan hệ chặt chẽ với lý luận về hội nhập khu vực (Paramoer, 2018) và dựa trên phân tích các khối thương mại khu vực (Fan & các cộng sự, 2019). Mặc dù vậy, nghiên cứu tác động của GVC đến các nền kinh tế khu vực vẫn chưa được chú trọng (Bolea & các cộng sự, 2022). 10 Bên cạnh đó, dịch vụ cũng là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình TMQT GVC và cũng tự tạo thành các chuỗi giá trị tương tự như hàng hóa nhưng thường bị bỏ qua khi nghiên cứu GVC (Stephenson, 2012) do các lý thuyết kinh tế học cổ điển không chú trọng nghiên cứu dịch vụ (Nguyễn Hồng Sơn & Nguyễn Mạnh Hùng, 2010) và GVC dịch vụ có phạm vi giao dịch phức tạp hơn về mặt địa lý (Heuser & Mattoo, 2019), đặc biệt là du lịch. Mang đặc trưng của một ngành dịch vụ (Nguyễn Huy Thám & Nguyễn Tấn Lực, 2021), du lịch có sự tham gia của nhiều chủ thể (Nguyễn Phúc Nguyên, 2012) mang tính chất tổng hợp, liên ngành và vượt ra khỏi phạm vi địa lý của một lãnh thổ nhất định (Phạm Thị Hồng Cúc & Phan Thị Hồng Dung, 2018) để cung cấp các dịch vụ mang tính phụ thuộc và bổ sung lẫn nhau để tạo thành giá trị cho một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh (Teodorescu & các cộng sự, 2015), qua đó tạo ra một tổng thể đặc thù và phức tạp (Nguyễn Thu Phương, 2018) với cốt lõi là sản phẩm du lịch được bán ra để thu được GTGT (Partale, 2020).
Trong quá trình tương tác giữa các chủ thể trong việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sản phẩm du lịch (Nguyễn Phúc Nguyên & Lê Thế Giới, 2013), du lịch tạo ra các liên kết ngược và liên kết xuôi với các ngành kinh tế khác, các liên kết nội ngành giữa các bộ phận (Rum, 2021) và sự phối hợp với các lãnh thổ khác nhau (Lê Hoàng Anh & các cộng sự, 2020), từ đó tạo ra CGTDL (Nguyễn Huy Thám & Nguyễn Tấn Lực, 2021). CGTDL được hiểu là chuỗi giá trị của ngành du lịch (Li & các cộng sự, 2015), do đó là một trong những chuỗi giá trị kinh tế rộng nhất (Đặng Thị Thúy An, 2021). Tuy nhiên, CGTDL có sự khác biệt với các chuỗi giá trị thông thường (Nguyễn Văn Đính, 2020) về mặt cấu trúc chuỗi giá trị (Denicolai & các cộng sự, 2010), điều kiện vận hành (Nguyễn Phúc Nguyên, 2012), phân bố địa lý (Liu, 2022), quy mô chủ thể (Nguyễn Đức Thành, 2016), liên kết chủ thể (Trần Quốc Đạt, 2020), nguồn cung ứng (Nulty & Cleverdon, 2011), tính thời vụ (Võ Quế & Lưu Công Thường, 2019). do bản chất của ngành du lịch (Ndivo & Cantoni, 2015).
Vì vậy, việc nghiên cứu CGTDL là bước tiên quyết để phát triển du lịch (Nguyễn Phúc Nguyên & Lê Thế Giới, 2013). 11 Nghiên cứu CGTDL xem xét ngành du lịch như một hệ thống (Aara, 2016) và tiếp cận tất cả các chủ thể tham gia quá trình tạo ra sản phẩm du lịch (Laiskodat & các cộng sự, 2017) và tạo ra GTGT dựa trên liên kết trong các công đoạn (Rahmiati & các cộng sự, 2020), qua đó cho phép đo lường hiệu quả kinh tế của du lịch (Lê Hoàng Anh, 2019) và xác định sự phân phối lợi ích giữa các chủ thể (Rylance & Spenceley, 2017) nhằm khuyến khích sự hợp tác tạo ra GTGT cao hơn (Nguyễn Việt Dũng, 2018) và đưa ra các giải pháp tăng cường khả năng cạnh tranh (Ngô Thị Phương Lan & Nguyễn Thị Vân Hạnh, 2020). Việc nghiên cứu CGTDL được thực hiện ở nhiều cấp độ (Ndivo & Cantoni, 2015), chia thành nhiều mô hình (Lao & Hu, 2007) và trải rộng trên nhiều quy mô địa lý khác nhau từ CGTDL theo chuyến đi của khách du lịch (Dermastia & các cộng sự, 2017; Macola & Unger, 2018.), chuỗi giá trị của doanh nghiệp du lịch (Phạm Trung Lương & Bùi Quang Tuấn, 2019; Fernández-Villarán & các cộng sự, 2020.), chuỗi giá trị của sản phẩm du lịch (Ngô Thanh Loan & Lê Hữu Nghĩa, 2021; Nhamo & các cộng sự, 2020.) hay chuỗi giá trị của ngành du lịch tại điểm du lịch (Bùi Thị Lan Hương, 2012; Gomes, 2020.), chuỗi giá trị của ngành du lịch địa phương (Lê Hồng Ngọc, 2021c; Zheng & các cộng sự, 2021.), chuỗi giá trị của ngành du lịch quốc gia (Lê Hồng Ngọc, 2022c; Macola & Unger, 2018) hay chuỗi giá trị du lịch toàn cầu (Starizt & Reis, 2013; Konishi, 2019. Điển hình cho nghiên cứu chuỗi giá trị của sản phẩm du lịch, mô hình CGTDL kết hợp hội họp, khen thưởng, hội nghị và triển lãm mô tả các chủ thể và các kênh tương tác trong CGTDL (Bueno & các cộng sự, 2020).
Các chủ thể sơ cấp bao gồm người mua, nhà cung ứng và đại lý du lịch. Các chủ thể thứ cấp bao gồm các tổ chức quảng bá và xúc tiến điểm đến du lịch, đại diện của các đại lý và nhà cung ứng tại các điểm du lịch, các nền tảng du lịch trực tuyến, các hệ thống phân phối toàn cầu. Một kênh tương tác đầy đủ giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị của sản phẩm du lịch này bao gồm người mua - đại lý du lịch - nhà cung ứng, trong khi các kênh tương tác khác có thể bỏ qua trung gian là đại lý du lịch hoặc có thêm sự can thiệp của các chủ thể thứ cấp. Chuỗi giá trị du lịch MICE Nguồn: Bueno & các cộng sự (2020) Điển hình cho nghiên cứu chuỗi giá trị của doanh nghiệp du lịch, mô hình CGTDL sinh thái của Công ty Dịch vụ Lữ hành Saigontourist tại điểm đến du lịch Vườn quốc gia Ba Bể mô tả các hoạt động chức năng và các chủ thể (Nguyễn Ngọc Thanh & Bùi Quang Tuấn, 2019).