Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dạy học kỹ năng Viết Tiếng Anh 1. Định nghĩa Kỹ năng Viết Trong dạy học ngôn ngữ, Viết được xem như một trong bốn kỹ năng chính (cùng với Nói, Nghe, và Đọc) người học cần nắm vững. Thuật ngữ Viết rất phổ biến và quen thuộc trong dạy và học ngôn ngữ.
Tuy nhiên, khả năng viết trôi chảy và mạch lạc là điều mà tất cả những người học ngôn ngữ đều rất khó để đạt được. Có rất nhiều định nghĩa về Viết được đưa ra và mỗi định nghĩa đều là sự phản ánh quan điểm của tác giả về quá trình viết. Leki (1976) cho rằng Viết là một trong bốn Kỹ năng người học cần nắm vững. Viết là quá trình người viết diễn đạt ý tưởng hoặc suy nghĩ của mình bằng hình thức viết.
Viết là giao tiếp và một bài viết tốt có thể truyền tải được ý tưởng của người viết một cách rõ ràng đến người đọc. Donn Byrne (1988), tác giả của cuốn sách “Writing and teaching writing” cho rằng “Viết là sự mã hoá thông tin mà con người có thể diễn tả những suy nghĩ của họ dưới dạng ngôn ngữ viết”. Tribble (1996) cũng đã khẳng định rằng Viết là Kỹ năng ngôn ngữ rất khó để học. Nó là một quá trình xảy ra trong một khoảng thời gian và thường yêu cầu một số hướng dẫn nhất định.
Các giai đoạn dạy học Kỹ năng Viết tiếng Anh Một bài dạy kỹ năng viết cần trải qua 3 giai đoạn: trước khi viết (Pre- writing), trong khi viết (While – writing) và sau khi viết (Post – writing). Theo các tác giả Richard Badger và Goodith White (2000), mỗi giai đoạn đều được tiến hành với mục đích khác nhau và các thủ thuật khác nhau. * Giai đoạn trước khi viết (Pre – writing): Người dạy viết cần tổ chức một số hoạt động trước khi người học viết. Tuân thủ theo nguyên tắc giáo học pháp hiện đại đi từ “nói” đến “viết” người dạy sẽ đưa ra hình thức thảo luận.
trao đổi các thông tin cần thiết cho bài tập viết, chuẩn bị những ý tưởng, từ vựng, cấu trúc ngữ pháp thời của động từ và lập dàn ý cho bài viết. 8 * Giai đoạn trong khi viết (While – writing): Ở giai đoạn này người học thực sự bắt tay vào viết. Các bài tập viết thường thuộc loại viết theo mẫu, viết có hướng dẫn. Cấp độ viết là những câu đơn hoặc một đoạn văn, được làm dưới hình thức cá nhân, làm theo cặp – nhóm ngay tại lớp.
* Giai đoạn sau khi viết (Post – writing): Sau khi học sinh viết xong, người học trao đổi bài làm và so sánh với nhau, chữa lỗi cho nhau. Người dạy trưng bày kết quả viết để cho toàn bộ người học trong lớp nhận xét, chữa lỗi tiếp (nếu có). Người dạy đưa ra nhận xét đáp án đúng chốt những điểm cần lưu ý. Với các thủ thuật cho từng giai đoạn dạy viết như trên sẽ tạo cơ hội để người học thực hành viết câu, viết đoạn, viết các thể loại khác nhau, tạo cảm giác tự tin và người học có thể học tập từ bài làm của những người học khác.
Tuy nhiên để phù hợp với đối tượng nghiên cứu của đề tài này, tác giả tập trung vào Giai đoạn trước khi viết với mục đích làm rõ thêm mối liên hệ giữa đối tượng nghiên cứu và Giai đoạn trước khi viết nhằm tăng hiệu quả của quá trình học kỹ năng viết luận tiếng Anh. Giai đoạn trước khi Viết (Pre-writing) 1. Định nghĩa Giai đoạn trước khi viết Giai đoạn trước khi viết rất quan trọng trong quá trình dạy kỹ năng viết. Richmond (1985) đã khẳng định rằng giai đoạn này là giai đoạn đầu tiên của quá trình viết và cũng được gọi là giai đoạn tạo ra ý tưởng bao gồm bất cứ điều gì người học đã làm hoặc đã từng trải qua có thể giúp họ đưa ra ý tưởng để viết về chủ đề.
(1991) định nghĩa Giai đoạn trước khi viết là kinh nghiệm thuộc về cấu trúc của người học ảnh hưởng đến việc tham gia tích cực của người học đến suy nghĩ, nói, viết và giải quyết chủ đề của bài học viết, kích thích suy nghĩ cũng như kỹ năng viết ở mức cao hơn. Theo tác giả, Giai đoạn này bao gồm các hoạt động nói viết, động não và thảo luận để tạo ra ý tưởng liên tục và cần thiết trong quá trình viết bài. 9 Thêm vào đó, giai đoạn trước khi viết nói chung liên quan đến việc người viết lựa chọn chủ đề, suy nghĩ về chủ đề và quyết định cách để đáp lại chủ đề đó. Đồng thời người viết cũng cần lựa chọn ý tưởng phù hợp và thông tin để sử dụng trong việc giải quyết chủ đề đó.
Giai đoạn trước khi viết cũng thể hiện ý thức của người viết đối với chủ đề của mình, cho phép người viết lựa chọn và tổ chức ý tưởng. Hơn nữa, các hoạt động được sử dụng trong giai đoạn trước khi viết có thể được thực hiện theo nhóm hoặc cá nhân, có thể nói, viết hoặc trải nghiệm (Adewumi, 1992, tr. Hầu hết các hoạt động như Động não, Viết tự do hay Biểu đồ đều có thể được sử dụng nhiều lần trong bài học viết. Tóm lại từ những lý thuyết được đưa ra, có thể hiểu rằng Giai đoạn trước khi viết là một chuỗi các thủ thuật để bắt đầu nghĩ về bài viết trước khi người học bắt đầu quá trình viết chính thức của mình.
Tầm quan trọng của Giai đoạn trước khi viết trong việc học viết D’Aoust (1986) nhấn mạnh rằng Giai đoạn trước khi viết giúp người viết lập kế hoạch cho cả quá trình viết đến khi sản phẩm viết được hoàn thành. Giai đoạn này tập trung vào việc kích thích sự sáng tạo của người học và cho phép họ nghĩ về những gì phải viết và làm thế nào để tiếp cận với chủ để được lựa chọn. Để thực hiện Giai đoạn này một cách hiệu quả, Tricia (1996) gợi ý rằng người dạy nên nhắc nhở người học hai vấn đề chính khi họ bắt đầu giải quyết chủ đề bài viết là mục đích viết và độc giả mà người viết muốn hướng tới để tạo ra dàn ý tổng thể cho bài viết của mình. Theo Spack (1984), ở giai đoạn này người học được dạy viết ra bất cứ ý tưởng nào có trong đầu một cách nhanh chóng mà không cần lo lắng về việc mắc lỗi hay cấu trúc, và như thế tốc độ viết của họ sẽ nhanh dần lên.
Bên cạnh đó, những hoạt động trước khi viết giúp người học chuẩn bị những ý tưởng ban đầu cho giai đoạn viết và tổ chức ý tưởng tốt nhất để phát triển độ trôi chảy trong bài viết của họ. Thêm vào đó, theo như Downs (2000), trong suốt Giai đoạn trước khi viết, người học có cơ hội tham gia vào các hoạt động hay để tạo ra được dàn ý cho bài viết, để nghĩ và viết về một chủ đề cụ thể nhanh chóng, sau đó việc viết sẽ dễ 10 dàng hơn nhiều. Hơn thế nữa, giai đoạn trước khi viết có thể giúp người học trong quá trình viết bằng cách định hướng đúng cả về kiến thức và tâm lý. Những thủ thuật được sử dụng trong Giai đoạn trước khi viết giúp người học tạo ra ý tưởng và tìm ra cấu trúc tạm thời, làm được cả hai việc này trước khi người học bắt đầu viết có thể giúp họ tiết kiệm được thời gian và công sức trong quá trình viết.
Thêm vào đó, giai đoạn trước khi viết là một cách tốt để tránh và vượt qua rào cản tâm lý trước khi viết của người viết cũng như giảm cẳng thẳng và lo lắng khi bắt đầu một bài viết mới. Tóm lại, giai đoạn trước khi viết đóng một vai trò cần thiết trong quá trình viết. Nó được hình dung như là định hướng tổ chức và tạo ra ý tưởng trong việc hoàn thành một bài viết. Vì lý do đó, những hoạt động trước khi viết nên được sử dụng như một liệu pháp để giúp đỡ những học sinh chưa có kinh nghiệm và khả năng viết chưa cao để hoàn thành bài viết của họ đạt hiệu quả cao nhất.
Những kỹ thuật trong giai đoạn trước khi viết Raimes, A. (1983) nhấn mạnh rằng không có việc hướng dẫn trước khi viết, người học sẽ thiếu ý tưởng và gặp rắc rối trong việc diễn đạt do hạn chế về ngôn ngữ. Những thủ thuật trước khi viết giúp tìm ra ý tưởng cho bài viết, mặc dù không phải lúc nào các ý tưởng cũng được tổ chức tốt và được sử dụng để tạo ra bài viết. Chúng ta sử dụng thuật ngữ “Trước khi viết” (Pre-writing) để chỉ đến công việc cần làm đối với bài viết luận trước khi người viết thực sự bắt đầu viết bài của mình.
Cũng theo tác giải Raimes, A. Đây là giai đoạn người học quyết định chủ đề họ viết, quan điểm và độc giả họ muốn hướng tới. Nó cũng là thời gian cho người học lập kế hoạch để việc viết về chủ đề của họ rõ ràng và súc tích hơn. Động não (Brainstorming): đây là giai đoạn tạo ra càng nhiều ý tưởng càng tốt về chủ đề mà không cần lo lắng về tính khả thi hoặc ý tưởng có thực tế hay không.
11 Viết tự do (Free-writing): hoạt động này là khi người học viết bất cứ suy nghĩ gì có trong đầu về chủ đề ngay lập tức trong một thời gian cụ thể khoảng 5 đến 10 phút. Người học không nên lo lắng về ngữ pháp, dấu câu, hay vần khi họ viết. Thay vì đó họ nên cố gắng và nghĩ ra nhiều ý tưởng có thể giúp họ khi bắt đầu quá trình viết. Bản đồ tư duy (Mind-maps): Bản đồ tư duy là cách trực quan để phác thảo thông tin.
Có nhiều loại bản đồ tư duy rất hữu ích khi sinh viên làm việc trong Giai đoạn trước khi viết. Chúng xây dựng ý tưởng vì vậy mà khi hoàn thành người học sẽ có ý tưởng dồi dào được kết nối với chủ đề chính của mình. Vẽ (Drawing/Doodling): một số người học rất thích ý tưởng có thể kết hợp từ với hình vẽ khi họ nghĩ về những gì họ muốn viết trong giai đoạn trước khi viết. Điều này giúp họ kết nối được những suy nghĩ sáng tạo của mình.
Liệt kê (Listing): Liệt kê có thể là thủ thuật trước khi viết đơn giản nhất và luôn là phương pháp đâù tiên người viết sử dụng để đưa ra ý tưởng. Liệt kê đúng như với tên gọi của nó là liệt kê ra những ý tưởng người viết có trong đầu của mình. Đầu tiên quy định giới hạn thời gian cho hoạt động này từ 5-10 phút là đủ. Sau đó người học viết ra thật nhiều ý tưởng mà không cần dừng lại để phân tích chúng.