Luận án tiến sĩ: Phát triển kỹ năng dạy học toán cho sinh viên sư phạm thông qua nội dung hàm số

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích giáo dục phát triển kỹ năng dạy học toán cho sinh viên sư phạm theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

244
15
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phát triển kỹ năng dạy học toán

Phát triển kỹ năng dạy học Toán cho sinh viên sư phạm là một vấn đề quan trọng trong giáo dục hiện đại. Nội dung chính của nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển kỹ năng dạy học thông qua việc giảng dạy hàm số. Theo chương trình giáo dục phổ thông, hàm số là một trong những nội dung then chốt, giúp học sinh hình thành và phát triển tư duy logic cũng như khả năng giải quyết vấn đề. Để đạt được mục tiêu này, cần có một hệ thống phương pháp dạy học toán hiệu quả, giúp sinh viên có thể nắm vững kiến thức và áp dụng vào thực tiễn. Việc phát triển kỹ năng dạy học không chỉ giúp sinh viên tự tin hơn trong việc giảng dạy mà còn nâng cao chất lượng giáo dục.

II. Nội dung giảng dạy hàm số trong chương trình học

Nội dung giảng dạy hàm số ở trường trung học phổ thông không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn tạo cơ hội cho sinh viên phát triển các kỹ năng dạy học cần thiết. Việc sử dụng kỹ thuật giảng dạy phong phú như thảo luận nhóm, giải quyết vấn đề thực tiễn sẽ giúp sinh viên hiểu sâu hơn về nội dung. Theo nghiên cứu, nội dung giảng dạy cần được thiết kế sao cho sinh viên có thể áp dụng lý thuyết vào thực tế, từ đó nâng cao khả năng tư duy và sáng tạo. Điều này cũng đồng nghĩa với việc sinh viên cần phải được rèn luyện các kỹ năng như phân tích, tổng hợp và đánh giá thông tin trong quá trình học tập.

III. Phương pháp phát triển kỹ năng dạy học cho sinh viên sư phạm

Để phát triển kỹ năng dạy học cho sinh viên sư phạm, cần áp dụng các biện pháp cụ thể như: Tạo điều kiện cho sinh viên thực hành dạy học hàm số thông qua các tình huống thực tế, khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động ngoại khóa liên quan đến toán học. Bên cạnh đó, việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm về phương pháp dạy học toán cũng rất quan trọng. Qua đó, sinh viên có thể chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi từ các giảng viên và bạn bè, từ đó nâng cao năng lực chuyên môn của bản thân. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng là một yếu tố quan trọng, giúp sinh viên làm quen với các công cụ hỗ trợ dạy học hiện đại.

IV. Đánh giá kết quả phát triển kỹ năng dạy học

Việc đánh giá kết quả phát triển kỹ năng dạy học của sinh viên sư phạm thông qua hàm số là một bước quan trọng trong quá trình đào tạo. Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá rõ ràng, bao gồm các kỹ năng như khả năng lập kế hoạch bài giảng, tổ chức hoạt động học tập, và đánh giá kết quả học tập của học sinh. Các phương pháp đánh giá có thể bao gồm tự đánh giá, đánh giá từ giảng viên và phản hồi từ học sinh. Kết quả đánh giá không chỉ giúp sinh viên nhận biết được điểm mạnh và điểm yếu của bản thân mà còn tạo cơ hội để cải thiện và phát triển hơn nữa trong lĩnh vực dạy học.

V. Kết luận và kiến nghị

Phát triển kỹ năng dạy học cho sinh viên sư phạm thông qua nội dung hàm số là một nhiệm vụ cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các trường đại học sư phạm và các trường phổ thông để tạo ra môi trường học tập hiệu quả. Đồng thời, các giảng viên cũng cần thường xuyên cập nhật phương pháp dạy học mới, nâng cao năng lực chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện đại. Việc nghiên cứu và phát triển các biện pháp dạy học hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong tương lai.

21/12/2024
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục phát triển kỹ năng dạy học toán cho sinh viên sư phạm theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên thông qua nội dung dạy học hàm số ở trường trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Về kỹ năng dạy học KN DH môn Toán đã được một số nhà tâm lý học, giáo dục học nổi tiếng ở nước ngoài quan tâm nghiên cứu và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau.

Tính mốc thời gian từ năm 1960, có thể kể ra những công trình sau: - Hình thành KN sư phạm của Cuzơmina N.V [24] - Tâm lý NL toán học của HS của Krutetxki V.A [45] - Những phẩm chất tâm lý của người GV của Gônôbôlin P.N [30] - Những cơ sở của DH nêu vấn đề của Ôkôn V [56] - Dạy học nêu vấn đề của Lecne I.Ia [48] - Những vấn đề về đào tạo giáo dục đại cương cho các GV trong tương lai của Apđuliana O.A [4] - Lý luận DH của trường phổ thông của Đanilop M.N [28] … Vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20 xuất hiện một loạt các công trình như: - Công trình nghiên cứu “Hình thành các KN, kỹ xảo sư phạm cho SV trong điều kiện của nền giáo dục đại học” của Kixêgôv X. Trong công trình này ông đã chỉ ra được NL DH của GV được thể hiện qua hơn 100 KN nghiệp vụ giảng dạy và giáo dục, nhưng cần phải tập trung đi sâu vào giải quyết 50 KN để phân chia tập luyện cho SV theo từng thời kỳ thực hành, thực tập sư phạm. - Với công trình nghiên cứu “Nội dung và cấu trúc thực hành sư phạm ở các trường ĐHSP trong giai đoạn hiện nay”, Apđuliana O.A [3] đã luận chứng và đưa ra một hệ thống các KN giảng dạy và KN giáo dục riêng biệt. Ở các nước phương Tây (Mỹ, Pháp, Canađa, Ôxtrâylia, .) trong giai đoạn này các học giả đặc biệt quan tâm đến tổ chức huấn luyện các KN thực hành giảng dạy cho SV sư phạm dựa trên những thành tựu của Tâm lý học (Tâm lý học hành vi, Tâm lý học chức năng, …) và của nhóm Didactic.

Điều đó thể hiện trong những công trình của: Jean Pierre Kahane - Claude Castella - Alain Mercire - Philippe Clarou - Irem Grenoble [39]; Annie Bessot, Claude Comiti, Francoise Richard (1992) [2] và trong báo cáo “Khoa học và nghệ thuật đào tạo các thầy giáo” của nhóm Phiđenta Kapkar (Mỹ), “Hội thảo về cách tân việc đào tạo bồi dưỡng GV của các nước Châu Á - Thái Bình Dương” do APEID tổ chức tại Seoul (Hàn Quốc),. Kết quả đào tạo GV còn bị ảnh hưởng bởi mô hình và hình thức đào tạo.Pojoux đã đề ra quan điểm mới về đào tạo sư phạm: Tôn trọng thực tiễn và chia nhỏ giai đoạn. Theo quan điểm này, việc đào tạo GV chuyển từ hình 7 thức đào tạo “Bài - Lớp - Khóa học - Niên chế” sang hình thức đào tạo theo “Tín chỉ”. Vấn đề này đã được UNESCO thảo luận tại cuộc họp thường niên vào năm 1955, nhưng phải đến những năm 70 ở Mỹ mới đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai vấn đề đào tạo theo giai đoạn thông qua việc triển khai các mô đun đào tạo GV theo từng nội dung lý thuyết (trong mỗi mô đun gồm có các tài liệu và nội dung hướng dẫn cần thiết để thực hiện mục tiêu giáo dục chung đã đặt ra).

Có thể nói hình thức đào tạo theo tín chỉ cho đến nay vẫn đang được triển khai áp dụng ở các quốc gia với những mức độ khác nhau. Về chuẩn nghề nghiệp giáo viên Ngày nay trong giáo dục thế giới đã xuất hiện xu hướng “cải cách dựa trên các chuẩn” (reform based on standards). Nhiều nước đã tiến hành xây dựng bộ chuẩn cho giáo dục của nước mình: chuẩn chất lượng giáo dục, chuẩn nhà trường, chuẩn cán bộ quản lý giáo dục, chuẩn GV. Trong bộ chuẩn cho GV có chuẩn trình độ đào tạo, chuẩn chức danh, chuẩn nghề nghiệp (professional standard)… Trong chuẩn nghề nghiệp, một số nước đã tiến đến xây dựng chuẩn nghề nghiệp cho GV từng ngành học, cấp học, môn học.

Theo [16], trên thế giới hầu hết các nước (Hoa Kỳ, Anh, Đức, Úc, …) đều có chuẩn NNGV, các bộ chuẩn đều chỉ rõ các NL nghề nghiệp cần được quan tâm trong suốt cuộc đời GV từ khi ra trường đến khi về hưu. Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong xây dựng Chuẩn NNGV phổ thông. Uỷ ban quốc gia chuẩn nghề DH (National Board for Professional Teacher Standards – NBPTS) - được thành lập năm 1987 - đã đề xuất 5 điểm cốt lõi để các bang vận dụng: GV phải tận tâm với HS và việc học của họ (Teachers are Committed to Students and Their Learning); GV phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình (Teachers Know the Subjects They Teach and How to Teach Those Subjects to Students); GV phải có trách nhiệm quản lý và hướng dẫn HS HT (Teachers are Responsible for Managing and Monitoring Student Learning); GV phải suy nghĩ một cách hệ thống về thực tế hành nghề của họ và HT qua trải nghiệm (Teachers Think Systematically about Their Practice and Learn from Experience); GV phải là thành viên của cộng đồng HT (Teachers are Members of Learning Communities). Chuẩn NNGV của Anh (2007) được cấu trúc gồm 3 phần (lĩnh vực) có liên quan lẫn nhau, đó là: Những đặc trưng nghề nghiệp; Kiến thức và sự am hiểu nghề nghiệp; Các KN nghề nghiệp.

Mỗi phần (lĩnh vực) lại có các tiêu chuẩn, mỗi tiêu chuẩn có các yêu cầu. Đối với mỗi loại GV có những yêu cầu khác nhau (cả về số lượng và mức độ). Chuẩn NNGV được xác định cụ thể cho từng giai đoạn phát triển nghề của GV: GV mới 8 vào nghề (33 yêu cầu); Dành cho tất cả GV (41 yêu cầu); GV trong thang bậc trả lương cao (10 yêu cầu); GV giỏi (15 yêu cầu); GV có KN cấp cao (chuyên gia) (3 yêu cầu). Tại cộng hòa liên bang Đức, theo nghị quyết Hội nghị Bộ trưởng Văn hoá Giáo dục các bang trong Liên bang (2004) thì Chuẩn đào tạo GV là những yêu cầu mà mọi GV phải đáp ứng.

Theo đó, những nét chính về hình ảnh nghề nghiệp của người GV là: (i) GV là những chuyên gia về dạy và học. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá quá trình dạy và học; (ii) GV phải ý thức được rằng nhiệm vụ của họ gắn bó chặt chẽ với các giờ lên lớp và với cuộc sống nhà trường; (iii) GV thực thi nhiệm vụ đánh giá và tư vấn một cách công bằng có trách nhiệm. Muốn vậy họ phải có trình độ cao về sư phạm tâm lý và chẩn đoán; (iv) GV liên tục phát triển các NL nghề nghiệp của mình, tận dụng mọi cơ hội để theo kịp các phát triển mới trong HĐ nghề nghiệp; (v) GV tham gia xây dựng một nền văn hoá học đường khuyến khích HT. Ở Australia đã xây dựng Khung quốc gia về chuẩn nghề nghiệp DH (The National Framework for Professional Standards for Teaching), bao gồm 4 lĩnh vực: (i) Kiến thức nghề nghiệp (Professional Knowledge); (ii) Thực hành nghề nghiệp (Professional Practice); (iii) Giá trị nghề nghiệp (Professional Values); (iv) Quan hệ nghề nghiệp (Professional Relationships).

Trên cơ sở đó, đối với các bang, không nhất thiết xây dựng cả 4 lĩnh vực, chỉ hai lĩnh vực 1 và 2 là giống nhau, các lĩnh vực 3 và 4 không giống nhau. Ở Trung Quốc, mặc dù chưa thấy công bố Chuẩn quốc gia, nhưng đã có những công trình nghiên cứu về PP đánh giá giáo dục nói chung, đánh giá GV nói riêng của các tác giả Thường Phong Mã (2005), Liên Bản Cố (2001), Thẩm Ngọc Thuần (2002), Ngô Cương (1996, 2001). Trong những năm gần đây (2013) đã có những nghiên cứu và dự thảo chuẩn NNGV toán ASEAN. Cụ thể: Trung tâm SEAMEO về giáo dục trong khoa học và Toán (RECSAM) đang triển khai soạn thảo tiêu chuẩn cho GV Toán (Sears-MT) dành cho khu vực Đông Nam Á, nó được xem như một tài liệu tập hợp các tiêu chuẩn mô tả những phẩm chất mà một GV toán học trong khu vực phải đạt được trong thế kỷ 21.

Trong đó, 4 tiêu chuẩn của GV được quan tâm là: NL hiểu biết về người học; NL hiểu biết về toán học; NL hiểu biết về việc học toán của HS; NL sử dụng công nghệ thông tin (CNTT). Như vậy, chuẩn NNGV là công cụ để thúc đẩy sự phát triển NL nghề nghiệp của GV phù hợp với đặc điểm của mỗi quốc gia. Từ kết quả nghiên cứu về KN DH và chuẩn NNGV trên thế giới, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau đây: 9 + Định hướng đào tạo và bồi dưỡng GV tập trung vào phát triển NL nghề nghiệp đã được các tác giả nước ngoài quan tâm rất sớm và được phát triển, hoàn thiện qua từng giai đoạn, gắn với việc nghiên cứu xác định chuẩn NNGV. + Việc đào tạo bồi dưỡng GV, nói riêng là GV Toán, phải gắn liền với thực tiễn giáo dục, với những yêu cầu thay đổi của các giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia, được cụ thể hóa tuỳ thuộc mỗi vùng lãnh thổ ở quốc gia đó.

+ Đào tạo bồi dưỡng GV có xu hướng hội nhập, quốc tế hóa về NL nghề nghiệp (đảm bảo tính khoa học và chuyên ngành) nhưng đồng thời cũng cần phải chú trọng đến tính đặc trưng văn hóa của từng dân tộc, mỗi địa phương ở các quốc gia trên thế giới. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Việc nghiên cứu vận dụng lý luận DH kinh điển của thế giới vào thực tiễn DH ở Việt Nam được thể hiện qua những tác phẩm của những tác giả: Phạm Văn Hoàn (chủ biên), Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình (1981) [33]; Nguyễn Cảnh Toàn [78]; Hoàng Chúng [22]; Nguyễn Kỳ [46];. Từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20 cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu về giáo dục học và tâm lý học trong nước đã đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu những BP, những kỹ thuật DH sao cho đạt được hiệu quả cao nhất. Đó cũng là một hướng nghiên cứu quan trọng, tập trung vào hình thành và bồi dưỡng KN DH cho SV sư phạm.

Trong một số giáo trình, một số tài liệu, các tác giả đã đi sâu vào việc hướng dẫn cho SV những KN giảng dạy, KN vận dụng PPDH tích cực và những KN thực hành DH. Nhiều tác giả đã trình bày một cách có hệ thống, tương đối toàn diện đến các KN sư phạm… nhằm góp phần thúc đẩy các HĐ rèn luyện NVSP, KN sư phạm cho SV. Có thể thấy rõ những điều đó qua những công trình sau: (1) Đề tài “Bước đầu tìm hiểu các NL DH của đội ngũ GV Tâm lý - Giáo dục” của Lê Thị Nhật (1985) [54]. Trong đề tài này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu những thành phần của NL DH môn Tâm lý - Giáo dục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Phát triển kỹ năng dạy học toán cho sinh viên sư phạm thông qua nội dung hàm số" của tác giả Nguyễn Minh Giang, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Quốc Chung, được thực hiện tại Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội vào năm 2017. Bài luận án này tập trung vào việc nâng cao kỹ năng dạy học toán cho sinh viên sư phạm, đặc biệt là thông qua việc giảng dạy nội dung hàm số trong chương trình giáo dục trung học phổ thông. Những điểm chính của nghiên cứu bao gồm việc phát triển năng lực sư phạm, cải thiện phương pháp dạy học, và ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn giảng dạy. Độc giả sẽ nhận được lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về cách thức phát triển kỹ năng sư phạm, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy toán học trong môi trường giáo dục.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác trong lĩnh vực giáo dục sư phạm, hãy tham khảo thêm các tài liệu sau: Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực tự học cho sinh viên sư phạm toán qua tình huống điển hình, nơi bạn có thể tìm hiểu thêm về việc cải thiện năng lực tự học trong giảng dạy toán học. Thêm vào đó, Luận án tiến sĩ về dạy học logic toán và phát triển ngôn ngữ toán học cho sinh viên sư phạm cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc phát triển ngôn ngữ toán học qua các phương pháp dạy học hiện đại. Cuối cùng, Ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chủ đề tam giác bằng nhau theo hướng phát triển năng lực giao tiếp toán học cho học sinh lớp 7 sẽ giúp bạn khám phá thêm về việc sử dụng các công cụ dạy học để nâng cao khả năng giao tiếp trong toán học. Mỗi liên kết trên sẽ mở ra những cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết trong lĩnh vực giáo dục sư phạm.