CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ DU LỊCH VÀ KHÁI QUÁT TIỀM NĂNG, LỢI THẾ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH CỦA HUYỆN CẦN GIỜ 1. Cơ sở lý luận về kinh tế du lịch 1. Khái niệm Du lịch Hiện nay, Du lịch đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người, mặc dù đó là hoạt động gần gũi, nhưng không phải ai cũng có quan niệm giống nhau. Mỗi cá nhân, mỗi quốc gia khi đứng trên từng góc độ nghiên cứu đều có những quan điểm của riêng mình.
Thuật ngữ Du lịch trong từ điển của nhiều quốc gia bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được Latinh hóa thành tornus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh)…. Còn trong tiếng Việt, thuật ngữ tourism dịch qua tiếng Hán, Du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải [86,7]. Theo nhà khoa học Đức Guer Freuler thì: “Du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự đổi thay của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp của thiên nhiên” [86,8].
Song song với đó, tác giả Trần Nhạn đã định nghĩa rằng “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời tính bằng đồng tiền”[65,7]. Đứng trên góc độ kinh tế, thì nhà kinh tế học Kalfiotis cho rằng: “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần hay đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế”[86,8]. Và cùng góc độ kinh tế, Picara Edmod đã đưa ra quan điểm “ Du lịch là tổng hòa việc tổ chức và chức 12 năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp (trước hết trong khách sạn) và gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí” [86, 9-10]. Tại Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa - Canada diễn ra vào tháng 6/1991 thì người ta lại định nghĩa “ Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” [33,15].
Hay “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch… du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ” [33,14]. Năm 1993, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch ở Roma, người ta đã định nghĩa “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế phục vụ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”[86,12]. Còn ở Việt Nam; trong Pháp lệnh Du lịch Việt Nam năm 1999 hay trong Luật Du lịch năm 2005 thì “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi lưu trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [151,2].
Như vậy, ở mỗi quốc gia, hay mỗi địa phương, mỗi cá nhân khác nhau đều có những quan niệm về du lịch khác nhau. Nhưng nhìn chung lại trong tất cả các quan điểm, thì việc định nghĩa du lịch vẫn có nét tương đồng, đó là: Tất cả đều coi du lịch là hoạt 13 động đi ra ngoài phạm vi sinh sống của họ, giúp người du lịch hiểu biết rộng hơn về thế giới xung quanh. Và ở nơi đó, hoạt động du lịch sẽ là hoạt động gắn liền với việc trao đổi hàng hóa, sử dụng dịch vụ du lịch, giao lưu và học hỏi văn hóa… Và việc kinh doanh du lịch sẽ giúp thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch. Khái niệm Kinh tế Du lịch Thực tế cho đến bây giờ, để định nghĩa một cách rõ ràng Kinh tế du lịch là gì, thì có lẽ sẽ khó có thể đưa ra một khái niệm chính xác.
Khi gọi tên Kinh tế du lịch là thực chất đang xem ngành du lịch dưới góc độ kinh tế. Từ lâu nay khi xét về mặt kinh tế, ta vẫn coi du lịch là một ngành trong cơ cấu ngành kinh tế (công nghiệp – nông nghiệp – thương mại dịch vụ) có đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước. Đảng ta từ lâu cũng đã chỉ rõ: "Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao". Quan điểm này được thể chế hóa thành luật: "Phát triển du lịch bền vững., bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.theo hướng du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch" [60,2].
Dưới góc độ kinh tế thì có thể hiểu: Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch. Ở đó diễn ra sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng những yêu cầu của khách du lịch, cũng như đem lại lợi ích kinh tế cho quốc gia, địa phương hay doanh nghiệp làm du lịch. Và từ đó cũng chứng minh được du lịch chiếm bao nhiêu phần trăm trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Về bản chất: Hoạt động kinh tế du lịch là sự kết hợp giữa các hiện tượng kinh tế với các hoạt động du lịch, hình thành trên cơ sở phát triển đầy đủ sản xuất hàng hóa và trao đổi hàng hóa.
Hoạt động kinh tế du lịch sẽ phát triển mạnh mẽ khi có nhiều ngành kinh tế tham gia vào quá trình du lịch của du khách. 14 Như vậy, quá trình phát triển ngành du lịch cũng là quá trình phát triển kinh tế, bởi đó là những hoạt động tương tác, hỗ trợ lẫn nhau. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch thế giới năm 1994 tại Osaka (Nhật Bản) đã khẳng định: “Du lịch là nguồn lớn nhất tạo ra GDP và việc làm của thế giới, chiếm tới 1/10 mỗi loại, đồng thời đầu tư cho du lịch và các khoản thu từ thuế liên quan tới du lịch tương ứng cũng tăng cao. Những sự gia tăng này cùng với các chỉ tiêu khác của du lịch dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách vững chắc và như vậy du lịch sẽ là đầu tàu kéo nền kinh tế thế giới trong thế kỷ 21” [91, 15].
Vai trò của du lịch đối với kinh tế, văn hóa – xã hội Những đóng góp to lớn của du lịch trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đã thể hiện vai trò quan trọng của ngành du lịch trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Với kinh tế Du lịch là một ngành quan trọng trong cơ cấu kinh tế của từng nước, và đóng góp một phần GDP to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế của quốc gia. Theo công bố tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch G20 diễn ra ngày 16/5/2012 tại Mexico, ngành du lịch chiếm 9% thu nhập GDP thế giới. Du lịch là một trong những ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất.
Năm 2011, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế thế giới tăng trưởng không lấy gì làm tốt đẹp và ổn định, ngành du lịch toàn thế giới vẫn tăng 4,6%, đón được 982 triệu lượt khách và thu nhập du lịch tăng 3,8%. Dự báo du lịch thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách bền vững trong những năm tới, đạt 1 tỷ lượt khách trong năm 2012 và 1,8 tỷ lượt năm 2030. Bên cạnh những chỉ số đóng góp ấn tượng trên, du lịch cũng được đánh giá là ngành quan trọng tạo nhiều việc làm cho xã hội, chiếm 8% lao động toàn cầu. Cứ mỗi một việc 15 làm trong ngành du lịch ước tính tạo ra 2 việc làm cho các ngành khác.
Ngành du lịch cũng sử dụng lao động nhiều vượt trội so với ngành công nghiệp khác, gấp 6 lần ngành sản xuất ô tô, gấp 4 lần ngành khai khoáng, và gấp 3 lần ngành tài chính. Du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy mậu dịch quốc tế. Năm 2011, xuất khẩu thông qua du lịch quốc tế bao gồm cả vận chuyển hành khách đạt 1,2 nghìn tỷ USD, chiếm 30% xuất khẩu toàn thế giới [56]. Không chỉ thế, du lịch còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác.
Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, do đó du lịch phát triển thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các ngành kinh tế khác như: công nghiệp, thương mại, giao thông, bưu điện, ngân hàng, y tế, khách sạn, …cũng có điều kiện phát triển. Song song với đó, du lịch còn là nhân tố tác động đến cán cân thanh toán quốc tế. Cán cân thanh toán quốc tế có thể rơi vào tình trạng bội chi hoặc bội thu. Tình trạng này không cố định theo thời gian mà luôn luôn thay đổi vị trí.
Khi đi du lịch, khách du lịch quốc tế sẽ mang theo tiền tệ của nước mình để tới nước mà mình đi du lịch, làm tăng nguồn thu ngoại tệ cho nước đó, nhưng ngược lại phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch ở nước ngoài. Nếu tình trạng này diễn ra trong một thời gian dài, tại một quốc gia thì sẽ diễn ra tình trạng bội thu cho quốc gia được tới du lịch, và bội chi cho quốc gia có khách đi du lịch, từ đó sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế giữa hai quốc gia đó.