CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1. Dịch vụ và dịch vụ viễn thông 1. Khái niệm Dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phong phú và đa chiều, được phân tích bởi nhiều nhà nghiên cứu với những quan điểm khác nhau.
Philip Kotler (2006) cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Quan điểm này cho thấy dịch vụ không nhất thiết phải gắn liền với một sản phẩm vật chất, mà có thể tồn tại độc lập dưới dạng trải nghiệm hoặc kết quả mang lại giá trị cho khách hàng. Lưu Văn Nghiêm (2008) mở rộng thêm bằng cách nhấn mạnh “Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu.
Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất”. Phạm Thị Huyền, Nguyễn Hoài Long (2023) tiếp tục nhấn mạnh sự vô hình của dịch vụ, đồng thời bổ sung yếu tố trải nghiệm mà dịch vụ mang lại, khẳng định rằng, “Dịch vụ là bất cứ một hoạt động hoặc một sự thực hiện hoặc sự trải nghiệm mà một bên có thể cung ứng cho bên kia, mang tính chất vô hình và thường là không dẫn đến sự sở hữu bất cứ yếu tố nào của quá trình tạo ra hoạt động/ sự trải nghiệm/việc thực hiện đó”. Như vậy khái niệm dịch vụ có thể hiểu: “là một quá trình cung cấp các hành động hoặc trải nghiệm mang tính vô hình, không dẫn đến quyền sở hữu, và có thể hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Sự tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cùng với việc không có sự chuyển giao quyền sở hữu, là những đặc điểm cốt lõi của dịch vụ.
Như vậy có thể thấy dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, là hoạt động có tính đặc thù riêng của con người trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùng phát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyền. 1: Đặc tính của dịch vụ Nguồn: Phạm Thị Huyền, Nguyễn Hoài Long (2023) Viễn thông Theo Pete Moulton (2001), viễn thông là khoa học của sự truyền đạt thông tin qua một khoảng cách dài, sử dụng công nghệ điện thoại hoặc công nghệ vô tuyến, nó liên quan đến việc sử dụng các công nghệ vi điện tử, công nghệ máy tính và công nghệ máy tính cá nhân để truyền, nhận và chuyển mạch âm thanh, dữ liệu, hình ảnh qua các phương tiện truyền dẫn khác nhau như cáp đồng, cáp quang và truyền dẫn điện tử. Theo Luật Viễn Thông số 24/2023/QH15 thì “Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác”. Dịch vụ viễn thông Theo Luật Viễn Thông số 24/2023/QH15: “Dịch vụ viễn thông bao gồm dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng: a) Dịch vụ viễn thông cơ bản là dịch vụ gửi, truyền, nhận thông tin giữa hai người hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, giữa các thiết bị đầu cuối qua mạng viễn thông; b) Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng là dịch vụ cung cấp thêm tính năng xử lý, lưu trữ và truy xuất thông tin cho người sử dụng thông qua việc gửi, truyền, nhận thông tin trên mạng viễn thông” Bằng những đóng góp của mình, ngành viễn thông trở thành ngành thuộc kết cấu hạ tầng của bất kỳ một nền kinh tế nào, bởi lẽ việc sử dụng các phương tiện thông tin viễn thông đã trở thành nhu cầu thiết yếu của toàn thể người dân trong xã hội và của toàn thể các tổ chức, các doanh nghiệp (lợi nhuận hay phi lợi nhuận).
6 Ở Việt Nam, Nhà nước đã xác định viễn thông là ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ quan trọng thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển bưu chính, viễn thông nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh (Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông, 2002). Đề tài sử dụng khái niệm viễn thông theo Theo Luật Viễn Thông số 24/2023/QH15: “Dịch vụ viễn thông bao gồm dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng” 1. Đặc điểm của dịch vụ viễn thông Trước tiên, là một ngành dịch vụ, dịch vụ viễn thông mang đầy đủ những đặc điểm của một ngành dịch vụ như: (1) tính vô hình – không nhìn thấy được, do đó khó nhận định đánh giá về chất lượng dịch vụ; (2) tính không đồng nhất – Mỗi lượt kết nối, tuỳ thuộc vào nhu cầu của khách hàng mà có những khoảng cách kết nối khác biệt nhau, thời gian kết nối khác nhau, do đó quy định về đơn vị sản phẩm của ngành viễn thông cần quan tâm tới số lượt kết nối, khoảng cách và thời gian kết nối; (3) tính đồng thời (tính không thể tách rời) – quá trình sản xuất đồng thời là quá trình tiêu thụ.
Từ tính chất không thể tách rời, sản phẩm dịch vụ viễn thông không thể tồn kho được và quá trình sản xuất luôn cần có sự tham gia của khách hàng, kết quả thu được từ dịch vụ không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của nhà cung cấp dịch vụ mà còn phụ thuộc vào thao tác của chính khách hàng trong quá trình sử dụng dịch vụ. Do đó, quá trình cung cấp dịch vụ luôn tiềm ẩn những rủi ro khi vận hành. Thứ hai, ngành viễn thông là một ngành dịch vụ kỹ thuật công nghệ cao. Để cung cấp được dịch vụ, nhà cung cấp phải trang bị những thiết bị truyền dẫn và chuyển mạch công nghệ cao, tạo nên một mạng lưới truyền dẫn và chuyển mạch rộng lớn bao phủ khắp các vùng lãnh thổ.
Không những thế, để khách hàng tham gia sử dụng được các dịch vụ viễn thông, họ cũng cần được trang bị các thiết bị đầu cuối (Ví dụ, máy điện thoại (cố định, di động), máy vi tính, modem và các thiết bị thu phát khác). Những trang thiết bị sử dụng trong ngành viễn thông hầu hết là những trang thiết bị đắt tiền, với chu kỳ sống ngắn (do tốc độ phát triển khoa học công nghệ trong lĩnh vực này rất cao), đòi hỏi phải thu hồi vốn nhanh, từ đó, mức độ khấu hao lớn sẽ làm ảnh hưởng đến giá thành của dịch vụ. Phân loại dịch vụ viễn thông Ngày nay, trong sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt, trong bối cảnh hội tụ của kỹ thuật viễn thông và công nghệ thông tin, các loại hình dịch vụ 7 viễn thông trở nên ngày càng đa dạng hơn. Theo như quy định trong pháp lệnh Bưu chính viễn thông (2002), dịch vụ viễn thông bao gồm: (1) Dịch vụ cơ bản: dịch vụ truyền đưa tức thời thông tin qua mạng viễn thông hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin.
Dịch vụ cơ bản gồm: - Dịch vụ viễn thông cố định (nội hạt, đường dài, trong nước và quốc tế) gồm: dịch vụ truyền dẫn, thu phát tín hiệu truyền hình, dịch vụ điện thoại, truyền số liệu, thuê kênh, telex, điện báo. - Dịch vụ viễn thông di động (nội vùng, toàn quốc, quốc tế). - Dịch vụ vô tuyến điện hàng hải. - Và các dịch vụ cơ bản khác do Bộ Bưu chính Viễn thông quyết định.
(2) Dịch vụ giá trị gia tăng: dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viên thông hoặc Internet; (3) Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet quốc tế. (4) Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập Internet; (5) Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính, viễn thông là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông cho người sử dụng. Dịch vụ ứng dụng Internet trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác phải tuân theo các quy định pháp luật về bưu chính, viễn thông và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Trong thực tế, những dịch vụ viễn thông kể trên được các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp thông qua các sản phẩm dịch vụ cụ thể: dịch vụ thuê bao điện thoại cố định; thuê bao điện thoại di động; thuê bao đường truyền Internet (cố định, di động); kênh thuê riêng; mạng dùng riêng; dịch vụ đàm thoại nội hạt, đường dài, quốc tế; và các dịch vụ nội dung.
Phát triển kinh doanh dịch vụ viễn thông 1. Khái niệm Theo Từ điển tiếng Việt (2007): “Phát triển là một khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu.” Hiểu một cách đơn giản, phát triển là sự tăng lên về số lượng và 8 chất lượng. Trong thời kỳ công nghệ phát triển, thương mại điện tử hiện diện trong tất cả các lĩnh vực.
Theo Lê Ngọc Minh (2007), kinh tế học phát triển cho rằng phát triển là khái niệm có nội dung phản ánh rộng, nó không chỉ bao hàm sự thay đổi về lượng mà còn phản ánh những biến đổi về mặt chất. Trong nền kinh tế thị trường và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng trên các mặt của đời sống kinh tế xã hội, thì để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp nói chung phải không ngừng mở rộng mạng lưới hoạt động, nâng cao năng lực tự chủ tài chính, đổi mới phong cách phục vụ và đặc biệt phải luôn cải tiến để làm mới và nâng cao chất lượng dịch vụ.